vanban.org

Bản án 80/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Các đương sự VKSND huyện Thái Thụy; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh B xin ly hôn chị M"
  • Tòa quyết gì? Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22-11-2023
V/v: Không công nhận là vợ chồng
Bát – Mấn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 192/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc yêu cầu không công nhận là vợ chồng, tranh chấp nuôi con chung của nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1969;

- Bị đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1971;

Đều trú tại: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

( Anh B và chị M đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2023 và tại bản tự khai ngày 31/10/2023, nguyên đơn anh Nguyễn Văn B trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh B và chị M tự nguyện tìm hiểu và tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương tại gia đình tuy nhiên không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà thực tế chỉ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1990 (anh không nhớ rõ ngày tháng). Sau khi tổ chức đám cưới, do công việc bận mải nên anh chị cũng không thực hiện việc đăng ký kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc tại gia đình ở thôn C, xã D đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách quá khác biệt dẫn đến thường xuyên đánh cãi nhau nên đời sống chung không còn hạnh phúc. Nay anh thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án không công nhận anh và chị M là vợ chồng.

Về con chung: Anh và chị M có hai con chung là cháu Nguyễn Việt D, sinh ngày 18/5/1991 và cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày 24/3/2006. Hiện nay cháu D đã trưởng thành và khỏe mạnh nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh đề nghị Toà án giao cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Việt A và anh không cấp dưỡng nuôi con chung theo thoả thuận của anh chị. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh và chị M không có nợ chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Vì lý do công việc bận mải nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh tại phiên tòa sơ thẩm. Theo bản tự khai đề ngày 31/10/2023, bị đơn – chị Phạm Thị M trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị M xác nhận thời gian, điều kiện và hoàn cảnh hôn nhân như anh B đã trình bày là đúng. Anh chị chỉ tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương mà không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi tổ chức đám cưới anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do anh chị bất đồng quan điểm sống, không cùng tiếng nói chung nên anh chị không còn tình cảm với nhau. Nay anh B đề nghị Tòa án không công nhận anh B và chị là vợ chồng, chị hoàn toàn nhất trí.

Về con chung: Anh chị có hai con chung như anh B đã trình bày. Hiện nay cháu D đã trưởng thành và khỏe mạnh nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị M đề nghị được trực tiếp nuôi cháu Việt A và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung theo nguyện vọng của cháu Việt A. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Vì lý do công việc bận mải nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Tại biên bản xác minh ở địa phương, Ủy ban nhân dân xã D, huyện T cung cấp như sau:

Anh Nguyễn Văn B, sinh ngày 03/12/1969 có căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/3/2023 và chị Phạm Thị M có căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/3/2023 đều là công dân đang sinh sống và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Anh B và chị M có tự nguyện tìm hiểu và tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương từ năm 1990, tuy nhiên hiện nay địa phương không còn lưu thông tin sổ sách năm 1990 thể hiện việc cả hai đã đăng ký kết hôn hay không, khi anh B và chị M mâu thuẫn và được chi hội phụ nữ cùng cơ sở thôn hoà giải thì anh chị đều khai là cả hai không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà chung sống như vợ chồng từ năm 1990 đến nay, địa phương cũng đã vận động thuyết phục anh chị đăng ký kết hôn lại theo quy định của pháp luật nhưng không thành. Cho đến thời điểm hiện tại, theo quản lý của địa phương thì anh B và chị M không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của nhà nước. Trong quá trình chung sống cả hai có phát sinh mâu thuẫn, theo anh chị phản ánh khi được hoà giải là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Mâu thuẫn trở lên trầm trọng từ năm 2014 và anh chị đã sống ly thân, gần đây anh chị đã có gắng đoàn tụ vì con cái nhưng không thành. Quan điểm của địa phương về tình trạng hôn nhân của anh B và chị M là đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ và thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Còn trường hợp mâu thuẫn đã quá trầm trọng, các bên đương sự kiên quyết xin ly hôn địa phương đề nghị Tòa án giải quyết cho các đương sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Theo sổ theo dõi khai sinh quản lý tại địa phương và theo địa phương nắm được thì trong thời kỳ chung sống với nhau anh B và chị M có 02 con chung là cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày 24/3/2006 và cháu Nguyễn Việt D, sinh ngày 18/5/1991, họ và tên cha mẹ đẻ trên giấy khai sinh của các cháu cũng là anh B và chị M. Cháu Việt D đã trưởng thành và khoẻ mạnh, hiện đang đi làm tự do còn cháu Việt A hiện đang học tại địa phương. Địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, nguyện vọng của các con để giải quyết theo quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của trẻ em.

Về tài sản chung, nợ chung của anh B và chị M địa phương không quản lý được. Tuy nhiên chưa có tổ chức, cá nhân nào phản ánh đến địa phương về nợ chung của anh B và chị M. Ngoài ra địa phương không cung cấp thêm thông tin gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn B và chị Phạm Thị M; Về quan hệ con chung: Con Nguyễn Việt D đã trưởng thành không đặt ra giải quyết, giao cho chị Phạm Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Việt A, chị M không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung; Về nợ chung, tài sản chung: Anh B và chị M không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Anh B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền: Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không thay đổi nơi cư trú vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn B và chị Phạm Thị M đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các bên đương sự. [3] Về quan hệ hôn nhân: Anh B và chị M tự nguyện tìm hiểu, chỉ tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương mà không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình chung sống anh chị thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vã từ năm 2014 đến nay và cũng không có biện pháp gì để hàn gắn hôn nhân. Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã D cũng xác nhận việc anh B và chị M không đăng ký kết hôn tại cơ quan chức năng có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và xảy ra mâu thuẫn là có thật. Quá trình giải quyết vụ án, anh B cũng xác định tình cảm không còn, anh đề nghị Tòa án không công nhận là vợ chồng, chị M cũng đồng ý. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa anh B và chị M đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, việc anh B yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị Phạm Thị M là có cơ sở. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn B và chị Phạm Thị M để hai người sớm ổn định cuộc sống là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Anh B và chị M có hai con chung là cháu Nguyễn Việt D, sinh ngày 18/5/1991 và cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày 24/3/2006. Cháu D đã trưởng thành và khỏe mạnh nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Chị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Việt A và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Việt A cũng có đơn xin ở với mẹ và anh B cũng nhất trí, tôn trọng nguyện vọng của con chung. Xét nguyện vọng của các đương sự trong vụ án cũng như để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của cháu Nguyễn Việt A, căn cứ vào các Điều 15, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần xử giao con chung Nguyễn Việt A cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chị M không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung. Các bên đương sự có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh B và chị M đều xác nhận không có nợ chung và đều không yêu cầu giải quyết về tài sản, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.

Về án phí: Anh B phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Anh B và chị M có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án; 1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn B và chị Phạm Thị M. 2. Về con chung: Anh B và chị M có hai con chung là cháu Nguyễn Việt D, sinh ngày 18/5/1991 và cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày 24/3/2006. Cháu Nguyễn Việt D đã trưởng thành khỏe mạnh nên không đặt ra giải quyết. Giao cho chị Phạm Thị M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Việt A, chị M không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con chung theo quy định của pháp luật. 3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. 4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn B phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000đ anh B đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004017 ngày 30/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án phí, nghĩa vụ chịu án phí của anh B đã thực hiện xong.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ