vanban.org

Bản án 80/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đào Thị L và anh Trần Văn T

Về nuôi con chung chưa T niên: Giao con chung Trần Trầm Anh, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2021 cho chị Đào Thị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; Anh Trần Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) kể từ tháng 7 năm 2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh T có quyền thă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L - T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đào Thị L và anh Trần Văn T
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2023
V/v: “Ly hôn giữa chị L và anh T”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NAM ĐỊNH

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Thu Hương

Ông Nguyễn Văn Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị

Thu Huyền – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 97/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị L, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm 7, xã P, huyện N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Đào Thị L trình bày: Chị và anh Trần Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định ngày 10 tháng 02 năm 2022.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã to tiếng với nhau, anh T không chung thủy, dẫn người tình về nhà ở và đuổi hai mẹ con chị về ngoại ở. Hiện nay chị và anh T ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Trần A, sinh ngày 18/6/2021 hiện nay đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị muốn được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con là 4 triệu đồng 1 tháng.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 17/7/2023, bị đơn anh Trần Văn T trình bày: Anh và chị Đào Thị L kết hôn năm 2022 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hợp nhau chị L bỏ đi, anh có gọi về thì chị L không về vì lý do chị đã đi với người khác. Từ tháng 7 năm 2022 đến nay vợ chồng anh ly thân. Nay chị Đào Thị L muốn ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Trần A, sinh ngày 18/6/2021 hiện đang ở cùng chị L. Khi ly hôn, anh muốn nuôi con và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án

Về đường lối giải quyết:

Căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83, 116,117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật TTDS; điều 6, khoản 1 điều 24, Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đào Thị L; Xử cho ly hôn giữa chị Đào Thị L và anh Trần Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần A, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2021 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

3. Về án phí DSST: Chị L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, anh T nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật./.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Đào Thị L và anh Trần Văn T đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Chị Đào Thị L và anh Trần Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định ngày 10 tháng 02 năm 2022; Vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, giữa chị L và anh T nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng không hợp nhau, không chung thủy. Hiện nay chị L và anh T ly thân, hai bên không gặp gỡ để tìm biện pháp hàn gắn đoàn tụ. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn; chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, anh T nhất trí.

Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị Đào Thị L và anh Trần Văn T đã mâu thuẫn trầm trọng, từ khi ly thân đến nay hai bên cũng không tìm được biện pháp hàn gắn đoàn tụ nên nếu tiếp tục kéo dài thì mục đích của hôn nhân không đạt được; Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị L đối với anh Trần Văn T.

Về nuôi con chưa T niên khi ly hôn: Chị Đào Thị L và anh Trần Văn T có 01 con chung là Trần A, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2021. Khi giải quyết ly hôn, xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế, đề nghị của đương sự, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung. Hội đồng xét xử thấy: con chung còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc của mẹ do vậy nên giao cháu Trần A cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với yêu cầu về mức cấp dưỡng nuôi con chung, do các đương sự không thỏa thuận được nên căn cứ vào thu nhập thực tế cũng như mức lương tối thiểu vùng, buộc anh Trần Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị L mỗi tháng 2 triệu đồng kể từ tháng 7/2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi, Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở

Về tài sản: Chị Đào Thị L và anh Trần Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Đào Thị L phải nộp án phí ly hôn, anh T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Chị Đào Thị L, anh Trần Văn T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56, 81,82,83, 116,117 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đào Thị L và anh Trần Văn T

2.Về nuôi con chung chưa T niên: Giao con chung Trần Trầm Anh, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2021 cho chị Đào Thị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; Anh Trần Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) kể từ tháng 7 năm 2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Đào Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên lai thu số 0000529 ngày 14 tháng 6 năm 2023. Anh T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

4.Về quyền kháng cáo: Chị Đào Thị L, anh Trần Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Hương

Nguyễn Văn Hà

Bùi Xuân Thọ

T/M: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ