vanban.org

Bản án 80/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hình Kim S được ly hôn với anh Châu Bình Tr.

Về quan hệ con chung: Giao người con chung của anh chị tên: Châu Hiếu N, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2014 cho anh Châu Bình Tr được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của con anh chị và hiện nay đang chung sống với anh Châu Bình Tr. Sau khi ly hôn, người k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn tranh chấp về nuôi con giữa chị Hình Kim S và anh Châu Bình Tr"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hình Kim S được ly hôn với anh Châu Bình Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-7-2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Kiều Oanh

2. Ông Hà Minh Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2022/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 95/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hình Kim S, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1995 (có mặt);

Địa chỉ: ấp HT, xã MH, huyện CT, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Châu Bình Tr, sinh năm 1992 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp L15, xã H, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 09 tháng 11 năm 2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Hình Kim S trình bày và yêu cầu như sau:

Chị và anh Châu Bình Tr chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã MH, huyện CT, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15 tháng 12 năm 2014. Chị và anh Châu Bình Tr có 01 người con chung tên: Châu Hiếu N, sinh ngày 14/10/2014 hiện nay đang chung sống với anh Châu Bình Tr; về tài sản chung và nợ, chị và anh Châu Bình Tr không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống chị và anh Châu Bình Tr sống không hòa hợp, thường xuyên cự cãi bất hòa với nhau, đến tháng 3/2021 chị và anh Châu Bình Tr sống ly thân cho đến nay. Chị thấy, chị và anh Châu Bình Tr không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu ly hôn với anh Châu Bình Tr. Về con chung, khi ly hôn chị tự nguyện giao người con chung tên Châu Hiếu N, sinh ngày 14/10/2014 cho anh Châu Bình Tr tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ, chị không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

* Tại Biên bản xác minh ngày 10/11/2022, về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:

Anh Châu Bình Tr, cư trú tại ấp L15, xã H, huyện AB, tỉnh Kiên Giang hiện nay anh Châu Bình Tr đi làm, thường xuyên vắng mặt ở nhà, nhưng vẫn về. Anh Châu Bình Tr và chị Hình Kim S chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn không nắm rõ. Anh chị có 01 người con chung hiện nay đang chung sống với anh Châu Bình Tr.

* Bị đơn anh Châu Bình Tr: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Châu Bình Tr biết để anh có ý kiến về việc chị Hình Kim S yêu cầu ly hôn với anh và nuôi con nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nuôi con của chị Hình Kim S nên Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Trích lục kết hôn tên Châu Bình Tr và Hình Kim S (Bản sao); Căn cước công dân Hình Kim S, sinh ngày 12/9/1995 và sổ hộ khẩu (Bản sao); Trích lục khai sinh Châu Hiếu N, sinh ngày 14/10/2014 (Bản sao); Văn bản trình bày nguyện vọng ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Châu Hiếu N (Bản chính); Biên bản xác minh của Tòa án ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính).

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Hình Kim S yêu cầu được ly hôn với anh Châu Bình Tr. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị giao người con chung tên Châu Hiếu N, sinh ngày 14/10/2014 cho anh Châu Bình Tr tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chị tự xác định, chị và anh Châu Bình Tr không có tài sản chung, chị cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị nên chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Châu Bình Tr vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các trình tự thủ tục theo pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Châu Bình Tr vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Hình Kim S yêu cầu được ly hôn với anh Châu Bình Tr và tranh chấp về nuôi con là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Hình Kim S được ly hôn với anh Châu Bình Tr. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao người con chung của anh chị cho anh Châu Bình Tr tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con anh chị. Về cấp dưỡng nuôi con, anh Châu Bình Tr không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, về tài sản chung và nợ, chị Hình Kim S tự xác định không có, anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Hình Kim S yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Châu Bình Tr và tranh chấp về nuôi con. Bị đơn anh Châu Bình Tr cư trú tại: ấp L15, xã H, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Châu Bình Tr biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Hình Kim S khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Châu Bình Tr vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Hình Kim S và anh Châu Bình Tr nhưng anh Châu Bình Tr vẫn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, đồng thời tại phiên toà hôm nay chị Hình Kim S không yêu cầu hoãn phiên toà. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Châu Bình Tr theo quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Hình Kim S và anh Châu Bình Tr chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã MH, huyện CT, tỉnh Kiên Giang là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 229/2014 ngày 15/12/2014, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét khởi kiện của chị Hình Kim S được ly hôn với anh Châu Bình Tr, thời gian chị và anh Châu Bình Tr chung sống với nhau không hòa hợp, thường xuyên bất hòa, cự cãi với nhau, đến tháng 3 năm 2021 anh chị ly thân với nhau cho đến nay. Chị thấy, chị và anh Châu Bình Tr không còn tình cảm vợ chồng nên chị yêu cầu ly hôn với anh Châu Bình Tr, nhưng anh Châu Bình Tr không có ý kiến yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Hình Kim S yêu cầu ly hôn với anh là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Hình Kim S cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Châu Bình Tr. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu khởi kiện của chị Hình Kim S, cho chị Hình Kim S được ly hôn với anh Châu Bình Tr là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung, chị Hình Kim S và anh Châu Bình Tr có 01 người con chung tên: Châu Hiếu N, sinh ngày 14/10/2014, hiện nay đang sống với anh Châu Bình Tr. Khi ly hôn, chị Hình Kim S giao cho anh Châu Bình Tr tiếp tục nuôi dưỡng; anh Châu Bình Tr không có ý kiến yêu cầu gì khác, đồng thời con chung của anh chị từ khi anh chị ly thân đến nay chung sống với anh Châu Bình Tr, đã thích nghi với cuộc sống hiện tại và có nguyên vọng chung sống với anh Châu Bình Tr. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Hình Kim S và nguyện vọng của con anh chị, giao người con chung của anh chị cho anh Châu Bình Tr được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, anh Châu Bình Tr không yêu cầu chị Hình Kim S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ, chị Hình Kim S tự xác định, anh chị không có tài sản chung, chị Hình Kim S cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hình Kim S được ly hôn với anh Châu Bình Tr.

2. Về quan hệ con chung: Giao người con chung của anh chị tên: Châu Hiếu N, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2014 cho anh Châu Bình Tr được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của con anh chị và hiện nay đang chung sống với anh Châu Bình Tr.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Châu Bình Tr không yêu cầu chị Hình Kim S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ, chị Hình Kim S tự xác định, chị và anh Châu Bình Tr không có tài sản chung, chị Hình Kim S cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

5. Về án phí: Buộc chị Hình Kim S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003699 ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Hình Kim S đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 28/7/2023. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ