- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Trường Gi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Trường Gi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2022/HS-ST Ngày: 20/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hổ
2. Ông Trịnh Ngọc Hồng
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Trương Phạm Duy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2022/TLST-HS ngày 26/8/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST-HS ngày 05/9/2022, đối với bị cáo:
Ngô Trường Gi (Ch), sinh năm 1997 tại tỉnh Bến Tre; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 45D, ấp B, xã N, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: tiếp thị; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Tr, sinh năm: 1976 và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1979; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 29/06/2022 cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Phạm Thị Thanh L, sinh năm 2000, nơi cư trú: số 182B4, khu phố N, phường S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Có mặt
2. Nguyễn Văn Th, sinh năm 1994; nơi cư trú: Phòng số 9, nhà trọ số 791/1, ấp M, xã S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1975; nơi cư trú: số 235, ấp B, xã S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
2. Lê Văn V, sinh năm 1988; nơi cư trú: số 177/2C, ấp C, xã A, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
3. Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1963; nơi cư trú: số 102B, khu phố B, phường S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
4. Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1982; nơi cư trú: số 617A/2, ấp H, xã S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 10/03/2022, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bến Tre kết hợp cùng lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Bến Tre tuần tra trên đường Quốc lộ 57C đến đoạn thuộc Tổ NDTQ số 10, ấp C, xã A, thành phố Bến Tre thì phát hiện Ngô Trường Gi đang điều khiển xe mô tô biển số 71B4-581.93 lưu thông trên đường hướng từ thành phố Bến Tre về huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Ngay lập tức, Ngô Trường Gi tự thừa nhận có cất giấu ma túy và chỉ cho lực lượng Công an thu giữ trong túi quần nhỏ, phía trước, bên phải của Gi đang mặc: 01 túi nylon hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch ngang màu xanh, bên trong có 04 túi nylon màu trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch ngang màu xanh, bên trong mỗi túi đều có chứa tinh thể màu trắng, đồng thời khai nhận đó là ma túy đá của G cất giấu để sử dụng nên Cơ quan Công an tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Gi và thu giữ tang vật.
Vật chứng thu giữ:
- 01 túi nylon hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch ngang màu xanh. Bên trong có 04 túi nylon màu trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch ngang màu xanh, bên trong mỗi túi đều có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu xanh-đen, số máy: JK03E5233538; số khung: RLHJK0312MZ027303; biển số đăng ký: 71B4-581.93.
- 01 giấy đăng ký xe mô tô số 012266 (bản sao).
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh-đen; Số Imei 1: 353544563414168/01; Số Imei 2: 353914473414162/01, điện thoại có 02 sim số thuê bao: 0343062912 và 0359139058 (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT).
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của của Ngô Trường Gi ở số 182B4, Khu phố N, Phường S, thành phố Bến Tre lực lượng Công an phát hiện và thu giữ:
Thu trong túi nhỏ của bao đựng cần câu cá để đứng trong góc tường bên trái, từ cửa phòng ngủ nhìn vào:
+ 01 túi nylon trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong có: 02 túi nylon trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong đều có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
+ 01 túi nylon trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong có: 04 túi nylon trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong đều có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
(Sau khi thu giữ tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu K).
Qua làm việc, Ngô Trường Gi khai nhận: 10 túi nylon chứa tinh thể màu trắng mà lực lượng Công an thu giữ là ma túy đá của Gi, Gi có được là do vào khoảng 16 giờ, ngày 07/03/2022, Giang mua của Nguyễn Văn Th (thường gọi là V) ở Phòng số 09, nhà trọ tháng số 791/1, ấp M, xã S, thành phố Bến Tre với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Gi đem về cất giấu để sử dụng thì bị lực lượng phát hiện thu giữ như trên.
Theo Bản kết luận giám định số 95/2022/KL-KTHS ngày 16/03/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre kết luận:
- Tinh thể màu trắng đựng trong 04 túi nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng 0,7397 gam.
- Tinh thể màu trắng đựng trong 06 túi nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu K gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng 2,2597 gam.
Quá trình điều tra, Ngô Trường Gi đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác đã thu thập được. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Bến Tre đã trả lại xe mô tô biển số 71B4-581.93 cho Phạm Thị Thanh L là chủ sở hữu.
Tại cáo trạng số 67/CT-VKSTPBT ngày 31/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Ngô Trường Gi về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:
+ Về hình phạt chính: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.
+ Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Bến Tre đã trả lại xe mô tô biển số 71B4-581.93 cho Phạm Thị Thanh L là chủ sở hữu.
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định.
Giao cơ quan điều tra tiếp tục xác minh là rõ và xử lý theo thẩm quyền 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh-đen; Số Imei 1: 353544563414168/01; Số Imei 2: 353914473414162/01; 02 sim số thuê bao: 0343062912 và 0359139058.
- Bị cáo khai nhận: 10 túi nylon chứa tinh thể màu trắng mà lực lượng Công an thu giữ là ma túy đá của bị cáo mua vào khoảng 16 giờ, ngày 07/03/2022 của Nguyễn Văn Th (thường gọi là V) ở Phòng số 09, nhà trọ tháng số 791/1, ấp M, xã S, thành phố Bến Tre với giá 1.000.000 đồng để sử dụng. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Thanh L trình bày: Chị và bị cáo là bạn, bị cáo có sinh sống ở nhà tại địa chỉ số 182B4, khu phố N, phường S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre khoảng hơn 01 tháng trước ngày hành vi của bị cáo bị phát hiện. Chị không biết việc bị cáo sử dụng ma túy và cất giấu ma túy tại nhà của chị. Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu xanh-đen, số máy: JK03E5233538; số khung: RLHJK0312MZ027303; biển số đăng ký: 71B4-581.93 mà bị cáo sử dụng khi bị phát hiện là của chị, chị đã nhận lại và không có yêu cầu gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tai phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Vào 09 giờ 40 phút ngày 10/03/2022, trên đường Quốc lộ 57C, đoạn thuộc Tổ NDTQ số 10, ấp C, xã A, thành phố Bến Tre và tại nhà số 182B4, Khu phố N, Phường S, thành phố Bến Tre, Ngô Trường Gi đã có hành vi tàng trữ trái phép tổng cộng 2,9994 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng.
Bị cáo là người có đủ năng lực nhận biết việc cất giấu ma túy là bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn mua và cất giấu ma túy để sử dụng nên Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường của con người, gây tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự nơi bị cáo thực hiện tội phạm, nguyên nhân phát sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng là “Người phạm tội tự thú”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “Gia đình có công với cách mạng” theo quy định tại các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Lời phát biểu luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Bến Tre đã trả lại xe mô tô biển số 71B4-581.93 cho Phạm Thị Thanh L là chủ sở hữu. Tịch thu tiêu hủy Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh-đen; Số Imei 1: 353544563414168/01; Số Imei 2: 353914473414162/01 và 02 sim số thuê bao: 0343062912 và 0359139058 do chưa mở khóa điện thoại được nên chưa làm rõ các nội dung có liên quan. Vì vậy giao Cơ quan điều tra xác minh, làm rõ để giải quyết theo thẩm quyền. 01 giấy đăng ký xe mô tô số 012266 (bản sao) tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Đối với việc Ngô Trường Gi khai nhận mua ma túy do Nguyễn Văn Th bán nhưng Th không thừa nhận và không có chứng cứ gì khác chứng minh; Phạm Thị Thanh L không biết Gi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không truy cứu trách nhiệm.
Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ngô Trường Gi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Ngô Trường Gi 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong số 95/2022 có chữ ký ghi tên Trần Duy Ch, Phan Trung Tr và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, công an tỉnh Bến Tre.
Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo thẩm quyền: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh-đen; Số Imei 1: 353544563414168/01; Số Imei 2: 353914473414162/01 và 02 sim số thuê bao: 0343062912 và 0359139058.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2022, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý).
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Ngô Trường Gi phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THADS thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND xã Nhơn Thạnh, TP. Bến Tre (1b); - Bị cáo, NCQLNVLQ (3b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (3b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Trình |