vanban.org

Bản án 80/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểmc khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Methamphetamien còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 58MT/PC09 và 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 bình ga, 07 ống hụt nhựa màu trắng, 02 bịch chứa các túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước 3x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểmc khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2022/HS-ST
Ngày 29-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Thúy

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hoàng, là Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư, Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Vũ Thị B, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1976 tại Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 4/190 N, phường N, quận Hải An, thành phố Hải Phòng;nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trọng T và bà Nguyễn Thị B (đều đã chết); có chồng là Vũ Minh H (đã ly hôn), chồng hai: Bùi Đức H1; có 03 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự. Bị bắt tạm giữ ngày 10/02/2022, tạm giam ngày 14/02/2022; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 09/02/2022 tổ công tác Công an phường K, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tại khu vực tuyến đường N, phường K phát hiện Vũ Thị B chở Vũ Thị Ư, sinh năm 1968; trú tại: Số 9/1259 N, phường N, quận Hải An, thành phố Hải Phòng đi trên xe mô tô 15H1-34514 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra hành chính, B lấy từ trong túi áo khoác ngoài bên phải đang mặc vất xuống dưới chân một túi nilon màu trắng kích thước 3x2,5cm viền màu xanh bên trong chứa 01 túi nilon kích thước 2,5x2,5cm viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Phát hiện trên tay của Ư một túi nilon màu đen đựng 02 bình ga, 07 ống hút nhựa màu trắng và khoảng 50 túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước 3x2,5 cm. Ngoài ra còn thu giữ của B: xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 15H1-34514, 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Oppo; thu giữ của Ư 01 điện thoại Nokia màu trắng. Lực lượng công an đã đưa B, Ư cùng vật chứng về trụ sở công an phường làm việc.

Tại Kết luận giám định số 58/KQGĐ-MT ngày 14/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng: tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,33 gam, là loại Methamphetamine.

Vũ Thị B khai nhận: Ngày 04/02/2022 Vũ Thị B đang ở nhà thì có một người quen tên là L (không xác định rõ lai lịch địa chỉ) đến chơi cho B 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước 3x2,5cm, bên trong có 01 túi nilon viền màu đỏ kích thước 2,5cmx2,5cm có chứa ma túy đá để sử dụng. B cất túi nilon vào túi áo khoác ngoài bên phải. Đến 18 giờ ngày 09/2/2022 B mặc áo khoác có cất giấu túi ma túy trên đi xe mô tô biển kiểm soát 15H1-34514 đến nhà Vũ Thị Ư rủ đi mua máy khử khuẩn. Sau đó cả hai mang máy khử khuẩn đến nhà chị gái rồi đi về. Trên đường đi về lúc đó trời mưa lên B dừng xe ở ngoài cửa của cửa hàng nhờ Ư vào một quán bán hàng mua hộ B 02 bình ga, 07 ống hút nhựa và hai bịch túi nilon. Sau khi mua xong Ư cầm ra đưa bị cáo đã treo túi nilon chứa các đồ vật trên ở võng xe, cả hai đi đến khu vực bãi rác thuộc tổ 1 phường K, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng thì bị kiểm tra như trên, khi lực lượng công an kiểm tra bịch túi nilon chứa các dụng cụ bị rơi xuống đất nên Ư đã nhặt lên cầm ở tay thì bị thu giữ. Các dụng cụ trên B mua về để sử dụng ma túy. B không nói cho Ư biết có cất giấu ma túy trong người và mục đích mua các dụng cụ để làm gì.

Vũ Thị Ư có lời khai phù hợp với lời khai của Vũ Thị B, Ư không biết B nhờ mua 02 bình ga, 07 ống hút nhựa và túi nilon để làm gì, không biết B cất giấu ma túy trong người.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung trên và khai do để quên ma túy trong túi áo khoác nên khi đi mua máy khử khuẩn số ma túy vẫn để ở túi áo. Việc bị cáo sử dụng ma túy gia đình không ai biết. Ư (chị gái bị cáo) không biết và chưa bao giờ sử dụng ma túy với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 20 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Vũ Thị B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 09/2/2022, tại khu vực bãi rác thuộc tổ 1, phường K, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Vũ Thị B có hành vi cất giữ trái phép 0,33 gam ma túy, là loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Thị B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị B mức án từ 18 năm đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do các bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định; 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 bình ga, 07 ống hụt nhựa màu trắng, 02 bịch chứa các túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước 3x2,5cm.

Trả lại bị cáo B 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Oppo.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 15H1-34514 xác minh chủ xe là bà Phan Thị M, sinh năm 1971, trú tại: thôn Đốc Hành, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Bà M khai bị mất trộm chiếc xe trên tại xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng khoảng 02 năm trước. B khai xe trên mua của một người không quen biết vào khoảng tháng 11/2021 và đã làm mất đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã có công văn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lãng tiếp nhận tang vật và tài liệu để điều tra theo thẩm quyền nhưng chưa nhận được công văn trả lời nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách chiếc xe ra để tiếp tục xác minh xử lý sau. Do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với điện thoại thu giữ của Vũ Thị Ư do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã ra quyết định trả lại cho Ư; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với người nam giới tên Lương, theo lời khai của B là người cho B ma túy vào ngày 04/2/2022 do không xác định được căn cước lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra làm rõ; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với Vũ Thị Ư kết quả điều tra không chứng minh được có liên quan đến hành vi phạm tội của B nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không xử lý; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Bị cáo tự bào chữa: Tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hay tranh luận với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa và công nhận lời luận tội đúng hành vi phạm tội, không bị oan.

Lời nói sau cùng của của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 09/2/2022, Vũ Thị B có hành vi cất giữ trái phép 0,33 gamma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tangtại khu vực bãi rác thuộc tổ 1, phường K, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Thị B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.

Bị cáo biết hành vi cất giữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm những vẫn thực hiện, bị cáo phạm tội lỗi cố ý.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình.

Về nhân thân bị cáo: Chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu.

Từ những phân tích trên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhậpnên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Về xử lý vật chứng:

Lượng Methamphetamien cơ quan Công an thu giữ của các bị cáo có khối lượng 0,33 gam, sau khi lấy đi giám định lượng còn lại 0,23 gamcùng vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 58MT/PC09; xét đây là vật cấm lưu hành và 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 bình ga, 07 ống hụt nhựa màu trắng, 02 bịch chứa các túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước 3x2,5cm; xét không còn giá trị sử dụng, liên quan đến hành vi phạm tội. Nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen dạng bàn phím có số IME 354273/06/785344/5 và 01 điện thoại Oppomàu xanh có số IME 862562050930797 thu giữ của bị cáo B; tài liệu điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo khai dùng để liên lạc với gia đình, bạn bè; nên trả lại bị cáo.

Đối với điện thoại thu giữ của Vũ Thị Ư do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã ra quyết định trả lại cho Ư; nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 15H1-34514 thu giữ của bị cáo B qua xác minh chủ xe là bà Phan Thị M, sinh năm 1971, trú tại: thôn Đ, xã T, huyện Tiện Lãng, thành phố Hải Phòng. Bà M khai bị mất trộm chiếc xe trên tại xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng khoảng 02 năm trước. B khai xe trên mua của một người không quen biết vào khoảng tháng 11/2021 và đã làm mất đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã có công văn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lãng tiếp nhận tang vật và tài liệu để điều tra theo thẩm quyền nhƯ chưa nhận được công văn trả lời nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách chiếc xe ra để tiếp tục xác minh xử lý sau. Do vậy Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

Đối với người nam giới tên Lương, theo lời khai của B là người cho B ma túy vào ngày 04/2/2022 do không xác định được căn cước lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra làm rõ; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.

Đối với Vũ Thị Ư kết quả điều tra không chứng minh được có liên quan đến hành vi phạm tội của B, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không xử lý; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Thị B 15 (mười lăm)tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 10tháng 02 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểmc khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Methamphetamien còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 58MT/PC09 và 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 bình ga, 07 ống hụt nhựa màu trắng, 02 bịch chứa các túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước 3x2,5cm.

Trả lại cho bị cáo B01 điện thoại Nokia màu đen dạng bàn phím có số IME 354273/06/785344/5 và 01 điện thoại Oppo màu xanh có số IME 862562050930797.

(Theo Biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 21 tháng 7 năm 2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ vào Điều 2, 26 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ