- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2022/HS-ST Ngày 19 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Láng.
2. Ông Phạm Đức Hiển.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Huy Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnhThái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Đặng Văn Đ, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1975 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn 5, xã Vũ H, huyện Kiến X, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 9/12; con Đặng Đức T và bà Bùi Thị Th (đều đã chết); có vợ là chị Nguyễn Thị L nhưng đã ly hôn; bị cáo có 02 con; tiền án: Bản án số 112/2020/HSST ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt Đặng Văn Đ 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đến ngày 19 tháng 4 năm 2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; Nhân thân: Từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12 sau đó lao động tự do. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07 tháng 9 năm 2022, đến ngày 10 tháng 9 năm 2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt).
- Người chứng kiến:
1. Anh Trương Văn Đ, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn Kiều Th, xã Song A, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
2. Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn Lang Tr, xã Trung A, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
(Anh Đ và anh Ph đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07 tháng 9 năm 2022, Đặng Văn Đ điều khiển xe máy điện biển kiểm soát 17MĐ7-088.11 đi từ nhà lên thành phố Thái Bình tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực đường trước Trung tâm sát hạch lái xe thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, Đại đã gặp và mua của một người nam thanh niên không quen biết khoảng 20 tuổi 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu vào túi quần sooc bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe đi về. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ về đến trục đường DH07 thuộc địa phận thôn Lang Tr, xã Trung A, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện Vũ Thư phát hiện bắt quả tang. Tiến hành kiểm tra, lực lượng công an thu giữ tại túi quần sooc bên trái phía trước Đ đang mặc 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,1552 gam; Đ khai là ma túy, loại Heroine, Đ mua về để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra xe máy điện do Đ điều khiển không thu giữ gì.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Kết luận giám định số 355/KL-KTHS (MT) ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận:
Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1552 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm năm mươi hai gam).
Heroine STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Bản Cáo trạng số: 87/CT-VKSVT ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư đã truy tố bị cáo Đặng Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn Đ phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Đặng Văn Đ mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 9 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,1183 (không phẩy một nghìn một trăm tám mươi ba) gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 355/KL-KTHS(MT) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình; tuyên trả: 01 xe máy điện BKS 17MĐ7-088.11 dán nhãn JVC Eco, sơn xe màu đen xe đã cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Đặng Văn Đ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các chứng cứ buộc tội bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản ảnh vật chứng; Bản Kết luận giám định số 355/KL - KTHS(MT) ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Biên bản ghi lời khai của những chứng kiến là anh Trương Văn Đ và anh Nguyễn Văn Ph.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trục đường DH07 thuộc địa phận thôn Lang Trung, xã Trung An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Đặng Văn Đ đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1552 gam bên trong túi quần sooc bên trái, phía trước Đ đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của Đặng Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
c) Heroine, Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1552 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân của Đặng Văn Đ là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn ma tuý đang là hiểm họa của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Những năm qua, tệ nạn ma tuý ở Việt Nam vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma tuý mới. Ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninhquốc gia.
Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật.
Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Đ có nhân thân xấu. Ngày 20 tháng 5 năm 2020, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo Đ không có tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 19 tháng 4 năm 2021, Đặng Văn Đ chấp hành xong hình phạt tại bản án số 112/2020/HSST ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” và bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:
Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét thấy, bị cáo Đ tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi. Bị cáo lao động tự do, không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy, loại Heroine giám định hoàn lại còn lại 0,1183 (không phẩy một nghìn một trăm tám mươi ba) gam niêm phong trong phong bì số 355/KL - KTHS (MT) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu để tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe máy điện BKS 17MĐ7-088.11 dán nhãn JVC Eco, sơn xe màu đen xe đã cũ đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Đ, bị cáo thường sử dụng làm phương tiện đi lại cho bản thân và gia đình nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Những vấn đề khác trong vụ án:
Về nam thanh niên đã bán ma túy cho Đ, do Đ khai không quen biết, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Đặng Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 9 năm 2022.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1 Tịch thu tiêu hủy: 0,1183 (không phẩy một nghìn một trăm tám mươi ba) gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 355/KL - KTHS (MT) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
3.2 Tuyên trả: 01 chiếc xe máy điện BKS 17MĐ7-088.11 dán nhãn JVC Eco, sơn xe màu đen xe đã cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Đặng Văn Đ.
(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 29 tháng 11 năm 2022).
4. Về án phí: Bị cáo Đặng Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19 tháng 12 năm 2022).
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Bị cáo; nơi cư trú của bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Lưu Hồ sơ; - Lưu HCTP. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Huyền |