- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Văn S 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2022.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2022/HS-ST Ngày 17/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân :
Bà Nguyễn Thị Hữu
Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh năm 1974 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ a, thị trấn S S, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá : Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Đồng Thị Th (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2008; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 125/2018/HSST ngày 12/9/2018, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt: 15 tháng tù, về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tiền sự: không; nhân thân: -Ngày 10/01/2013, Chủ tịch UBND huyện Sóc Sơn có Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục lao động xã hội số VI với thời hạn 24 tháng. Ngày 08/12/2014 chấp hành xong, tiền sự đã được xóa.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/02/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h30 ngày 14/02/2022, Nguyễn Văn S điều khiển xe máy BKS 29S6-712.88 từ nhà đến khu vực Thanh Xuyên, Phổ Yên, Thái Nguyên để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Sơn gặp một người nam giới không quen biết ở ria đường Quốc lộ 3. S đặt vấn đề mua 01 gói ma túy với giá 150.000đ. Người nam giới đồng ý nhận tiền và giao lại cho Sơn 01 gói giấy bên trong chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, Sơn điều khiển xe máy đi về. Khi đến Phố Nỷ, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội thì bị Cơ quan Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra tạm giữ người và tang vật.
Tại kết luận giám định số 1223/KLGĐ-PC09 ngày 21/02/2022 của Phòng KTHS-Công an thành phố Hà Nội kết luận:
-Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy thu giữ của Nguyễn Văn S là ma túy loại hê rô in có khối lượng 0,058g.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Sơn, do S không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ xử lý trong vụ án.
Đối với chiếc xe máy BKS 29S6-712.88: Quá trình điều tra xác định là của chị Đồng Thị Th là vợ cũ của S, hiện chị Th vẫn sống cùng nhà với S. Ngày 14/02/2022, S mượn chị Th chiếc xe máy trên nhưng không nói rõ cho chị Th biết việc S dùng xe máy để đi mua ma túy. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy cho chị Th là có căn cứ.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt trên. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 23/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Nguyễn Văn S, về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn S về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn S mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 14/02/2022 tại khu vực Ph N, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,058g ma túy loại hê rô in với mục đích để sử dụng. Do Sơn đã có 01 tiền án về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên hành vi lần này của Sơn đã cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh trật tự công cộng, đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như làm ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân của bị cáo: Bản thân bị cáo đã có 01 tiền án năm 2018 về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Tuy nhiên tiền án này được xác định là tình tiết để định tội bị cáo trong vụ án này. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo không bị xác định là tái phạm.
Căn cứ vào tính chất vụ án cũng như nhân thân của bị cáo thấy bị cáo đã từng bị xét xử và đi cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, đối với bị cáo thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân bị cáo là con nghiện nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn có thu giữ của bị cáo 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của bị cáo và cán bộ giám định. Xét đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Văn S 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2022.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Nguyễn Văn S và cán bộ giám định.
(Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -VKSND huyện Sóc Sơn. -Chi cục THADS huyện Sóc Sơn. -Công an huyện Sóc Sơn. -TAHN -Bị cáo . -Đương sự. -Lưu HS, VP | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |