vanban.org

Bản án 80/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố quan hệ sống chung của chị An Thị L và anh Dương C không phải là quan hệ vợ chồng.

2/ Về con chung tên: Chị An Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên: An T (Giới tính: Nam), sinh ngày 01 tháng 01 năm 2010 cho đến cháu T đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, giáo dục con cho anh C, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Thị L - Dương C"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố quan hệ sống chung của chị An Thị L và anh Dương C không phải là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình Luật hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2022/HNGĐ-ST
Ngày 28-9-2022
V/v yêu cầu tuyên bố không công nhận
quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Đua

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Láth

Ông Triệu Khánh Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Phân – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2022/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị An Thị L, sinh năm 1986 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng;

Bị đơn: Anh Dương C, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Giồng N, xã H, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/5/2022, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị An Thị L trình bày:

Vào năm 2006, chị và anh Dương C tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng, nhưng từ đó cho đến nay chị và anh C vẫn chưa có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu, chị và anh C chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, được một thời gian thì chị và anh C bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong lối sống, không hợp nhau về tính cách. Việc mâu thuẩn giữa chị với anh C không ai biết. Đồng thời, giữa chị với anh C đã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay.

Trong quá trình sống chung, chị với anh C có 01 người con chung tên: An T (Giới tính: Nam), sinh ngày 01 tháng 01 năm 2010. Hiện cháu Trăng đang sống chung với chị.

Nay chị nhận thấy tình cảm giữa chị với anh C không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố mối quan hệ sống chung giữa chị với anh Dương C không phải là vợ chồng.

- Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu An T (Giới tính: Nam), sinh ngày 01 tháng 01 năm 2010 cho đến khi cháu Trăng đủ 18 tuổi (theo nguyện vọng của cháu Trăng). Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Dương C đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh C đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đối với bị đơn đều vắng mặt các lần Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đều vắng mặt tại các lần mở phiên tòa xét xử. Cho nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 9, Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố mối quan hệ sống chung giữa chị An Thị L với anh Dương C không phải là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu: An Trăng (Giới tính: Nam), sinh ngày 01 tháng 01 năm 2010 cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trăng đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 8 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn có địa chỉ tại ấp Giồng N, xã H, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã C thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Dương C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con” là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Xét đơn yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của chị An Thị L đối với anh Dương C, về quan hệ hôn nhân: Việc tranh chấp giữa chị L và anh C là loại kiện hôn nhân và gia đình, chị L và anh C chung sống với nhau từ năm 2006 nhưng cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý” và tại khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 quy định “nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”. Như vậy, hôn nhân giữa chị An Thị L với anh Dương C không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu tuyên bố mối quan hệ sống chung giữa chị với anh C không phải là vợ chồng. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng...”.

Từ những cơ sở phân tích nêu trên tại các mục số: [1], [2], [3], [4] và [5], Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 9, Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên bố không công nhận quan hệ chung sống giữa chị An Thị L và anh Dương C là vợ chồng.

Về con chung: Đối với cháu An T (Giới tính: Nam), sinh ngày 01 tháng 01 năm 2010, hiện nay chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Trăng cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi là phù hợp với nguyện vọng của cháu Trăng và phù hợp với quy định của pháp luật. Dành quyền thăm nom, giáo dục con chung cho anh C, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Chị An Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 8 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147; Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 9, Điều 14 và khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố quan hệ sống chung của chị An Thị L và anh Dương C không phải là quan hệ vợ chồng.

2/ Về con chung tên: Chị An Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên: An T (Giới tính: Nam), sinh ngày 01 tháng 01 năm 2010 cho đến cháu T đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, giáo dục con cho anh C, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4/ Về án phí: Chị An Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị L được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004261, ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C. Như vậy, chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Dương C không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ