vanban.org

Bản án 80/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N đối với bị đơn ông Trần Sơn T về việc ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị N và ông Trần Sơn T là vợ chồng. Về con chung: Bà Trần Thị N đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục 02 ngƣời con chung tên Trần Thảo V, sinh ngày 29/7/2014 và Trần T M, sinh ngày 23/10/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N đối với bị đơn ông Trần Sơn T về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 80/2022/HNGĐ
Ngày: 21 – 10– 2022
Về việc ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dƣơng Thị Bạn.

2. Ông Lê Văn Công.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.

Vào ngày 21 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 615/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022, giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1984; HKTT: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; tạm trú: Số 25/5, tổ 6, khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Ông Trần Sơn T, sinh năm 1975; HKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Số 5/61A, khu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Bà Trần Thị N, ông Trần Sơn T quen biết nhau từ năm 2014 và tự nguyện chung sống với nhau nhƣ vợ chồng, có tổ chức lễ cƣới nhƣng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Bà N đã nhiều lần đề nghị ông T đi đăng ký kết hôn để làm thủ tục nhập khẩu và làm giấy khai sinh cho các con chung nhƣng ông T vẫn không chịu, do đó các con chung đƣợc làm giấy khai sinh và nhập khẩu ở bên gia đình bà N, trên giấy khai sinh của con chung không có tên ông Trần Sơn T. Thời gian đầu bà N và ông T chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau khi chung sống đƣợc một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, nên thƣờng xuyên cãi nhau. Bà N và ông T đã nhiều lần ngồi nói chuyện để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng không thành. Do không thể chung sống với bà N đƣợc nữa nên ông T đã chuyển ra ngoài sống riêng từ cuối năm 2021 cho đến nay. Quá trình chung sống bà N và ông T có 02 ngƣời con chung tên Trần Thảo V, sinh ngày 29/7/2014 và Trần T M, sinh ngày 23/10/2016. Hiện tại, bà N xác định tình cảm với ông T không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với ông Trần Sơn T.

- Về con chung: Bà N yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục các con chung tên Trần Thảo V, sinh ngày 29/7/2014 và Trần T M, sinh ngày 23/10/2016.

- Về cấp dƣỡng: Bà Trần Thị N không yêu cầu ông Trần Sơn T cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bà N không còn yêu cầu nào khác.

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng M yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng M nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy tạm trú, giấy khai sinh của các con và các tài liệu chứng cứ có liên quan khác.

Quá trình tố tụng bị đơn ông Trần Sơn T trình bày:

Thống nhất ý kiến trình bày của bà N về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, về tình trạng hôn nhân, ông T xác định chƣa đăng ký kết hôn với bà N. Hiện tại ông T và bà N đã mâu thuẫn trầm trọng, không còn tình cảm với nhau và không tiếp tục chung sống đƣợc nên không thể quay về đoàn tụ để đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó ông T đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N về việc yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Quá trình chung sống ông T và bà N có 02 ngƣời con chung tên Trần Thảo V, sinh ngày 29/7/2014 và Trần T M, sinh ngày 23/10/2016, sau khi ly hôn ông T đồng ý giao các con chung cho bà N đƣợc trực tiếp, chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục, ông T không cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông T không có yêu cầu phản tố trong vụ án, yêu cầu đƣợc vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, giải quyết, xét xử vụ án.

Các tài liệu, chứng cứ bị đơn cung cấp: Không có.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đƣơng sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã đƣợc Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng của những ngƣời tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Bà Trần Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Sơn T nên quan hệ pháp luật trong vụ án này đƣợc xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Trần Sơn T cƣ trú tại Số 5/61A, khu phố Bình Đức 2, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, vì vậy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thụ lý đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Trần Sơn T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014, có tổ chức lễ cƣới nhƣng không đăng ký kết hôn. Bà N và ông T đều thống nhất xác định quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, quan điểm sống bất đồng, tính tình không hợp nhau nên hay cãi nhau, tình cảm không còn, không tiếp tục chung sống cùng nhau đƣợc. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Trần Sơn T. Ông Trần Sơn T thống nhất với lời trình bày và đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã hòa giải, giải thích động viên hai bên tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhƣng bà N, ông T xác định không đồng ý thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn mà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình, nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định mà chung sống với nhau nhƣ vợ chồng thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án tuyên bố không công nhận bà N, ông T là vợ chồng. Vì vậy, căn cứ các quy định viện dẫn trên, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân của bà N, ông T không đạt đƣợc, không thể tiếp tục chung sống xây dựng gia đình hạnh phúc nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ không công nhận bà Trần Thị N và ông Trần Sơn T là vợ chồng.

Về con chung: Bà N và ông T thống nhất có 02 ngƣời con chung tên Trần Thảo V, sinh ngày 29/7/2014 và Trần T M, sinh ngày 23/10/2016. Bà N và ông T thống nhất giao các con chung cho bà N đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục, ông T không cấp dƣỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà N và ông T.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N đối với bị đơn ông Trần Sơn T về việc ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị N và ông Trần Sơn T là vợ chồng.

- Về con chung: Bà Trần Thị N đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục 02 ngƣời con chung tên Trần Thảo V, sinh ngày 29/7/2014 và Trần T M, sinh ngày 23/10/2016.

Sau khi ly hôn ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai đƣợc cản trở. Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, vì quyền lợi của con, khi cần thiết và có yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con.

- Về cấp dƣỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị N và ông Trần Sơn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002709 ngày 20/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ