- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị H - Bùi Hùng C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2022/HNGĐ - ST Ngày: 25/08/2022 “Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thức Phong
Ông Lê Tuyên Quang
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 45/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 08 năm 2022 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1990
Trú tại: Xóm H, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An
- Bị đơn: Anh Bùi Hùng C, sinh năm 1984
Trú tại: Khối 03, phường TƯ, thị xã C, tỉnh Nghệ An
(Các đương sự đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 07/04/2022, tại bản tự khai nguyên đơn - chị Đinh Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 09 năm 2011 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Trong đời sống hàng ngày cũng như trong công
- 1 -
việc làm ăn, vợ chồng đều xảy ra mâu thuẫn ngày càng lớn và liên tiếp khiến vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng nhiều lần cãi vã lẫn nhau. Mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng sâu sắc. Từ năm 2017, chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C sống ly thân cho đến nay. Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Đinh Thị H xin được ly hôn với anh Bùi Hùng C.
Về quan hệ con chung: Chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C có 01 con chung là cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 09/3/2013. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Yêu cầu anh Bùi Hùng C cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị Đinh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ, vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai, bị đơn anh Bùi Hùng C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Hùng C và chị Đinh Thị H kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 09 năm 2011 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã. Anh Bùi Hùng C và chị Đinh Thị H đã sống ly thân từ năm 2017 cho tới nay. Mặc dù vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng sâu sắc. Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Đinh Thị H xin được ly hôn anh Bùi Hùng C hoàn toàn đồng ý.
Về con chung: Anh Bùi Hùng C và chị Đinh Thị H có 01 con chung là cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 09/03/2013. Sau khi ly hôn, anh Bùi Hùng C có nguyện vọng giao con cho chị Đinh Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Bùi Hùng C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/01tháng. Thời gian cấp dưỡng theo quy định của pháp luật
Về tài sản chung và khoản nợ: Anh Bùi Hùng C thống nhất với quan điểm của chị Đinh Thị H. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy
- 2 -
định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 55, 81, 82. 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C. Về con chung: Giao cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 09/3/2013 cho chị Đinh Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Bùi Hùng C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/01tháng. Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.
Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đinh Thị H về việc chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Anh Bùi Hùng C phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Đây là vụ án hôn nhân gia đình do chị Đinh Thị H yêu cầu, nơi ĐKHKTT và trú tại của bị đơn anh Bùi Hùng C ở khối 03, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C. Tuy nhiên chị H và anh Cường có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C theo quy định.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/09/2011 tại UBND xã N (Nay là xã K) huyện N, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp. Chị H và anh Cường đều thừa nhận vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã. Chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C đã sống ly thân từ năm 2017 cho tới nay. Theo kết quả xác minh tại UBND phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò
- 3 -
thì sau khi kết hôn, vợ chồng chị H, anh Cường về sinh sống tại khối 03, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò. Quá trình chung sống, vợ chồng chị H anh Cường có phát sinh mâu thuẫn nhưng nguyên nhân cụ thể UBND phường không nắm được. Chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C thống nhất ly hôn và có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nhanh chóng đưa vụ án ra xét xử để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Đinh Thị H, anh Bùi Hùng C thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Việc thuận tình ly hôn của chị H, anh Cường là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C.
- Về quan hệ con chung: Chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C có 01 con chung là cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 09/03/2013. Chị H và anh Cường thống nhất giao cháu Toàn cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Xét thấy yêu cầu của chị Đinh Thị H, anh Bùi Hùng C là chính đáng và phù hợp với nguyện vọng của cháu là được với mẹ. Để cháu Bùi Xuân T phát triển đầy đủ thể chất, tinh thần, ổn định cuộc sống nên giao cháu Bùi Xuân T cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận sự thỏa thuận của chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C. Anh Bùi Hùng C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/01 tháng. Chị H và anh Cường đều đề nghị giải quyết về thời gian cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 2 Điều 2 của Luật thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), Hội đồng xét xử xác định thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 25/08/2022 cho đến khi cháu Bùi Xuân T đủ 18 tuổi trưởng thành.
- Về quan hệ tài sản chung và khoản nợ: Chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí:
Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đinh Thị H về việc chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Anh Bùi Hùng C phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy
- 4 -
định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 2 của Luật thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị H và anh Bùi Hùng C.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 09/03/2013 cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Anh Bùi Hùng C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 25/08/2022 cho đến khi cháu Bùi Xuân T đủ 18 tuổi trưởng thành.
Anh Bùi Hùng C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị Đinh Thị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Bùi Hùng C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Bùi Hùng C không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Về quan hệ tài sản chung: Miễn xét.
4. Về nghĩa vụ chung về tài sản: Miễn xét.
5. Về án phí: Buộc chị Đinh Thị H phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự
- 5 -
thị xã Cửa Lò. Trả lại cho chị Đinh Thị H số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0001041 ngày 24 tháng 05 năm 2022.
Anh Bùi Hùng C phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND thị xã Cửa Lò; - Chi cục THADS thị xã Cửa Lò; - UBND xã Khánh Hợp, Nghi Lộc; - Lưu hồ sơ vụ án. - 6 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |