vanban.org

Bản án 80/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Mọng L ly hôn với ông Quách Văn H.

Về con chung: Giao cho Bà Trần Mọng L chịu trách nhiệm tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Quách Thành D (giới tính nam), sinh ngày 14/01/2021 cho đến khi Quách Thành D đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống. Ông Quách Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Ghi nhận sự tự nguyện củ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Mọng L ly hôn với ông Quách Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 7 - 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Việt Khái.

Bà Trần Thị Hoài Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2022, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 271/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Mọng L, sinh năm 1988 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Quách Văn H, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T A, xã P, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/3/2022 cùng các văn bản khác kèm theo nguyên đơn là bà Trần Mọng L trình bày:

Về hôn nhân, vào năm 2020, bà và ông Quách Văn H chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh C vào ngày 16/3/2020. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên về sau vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và không thể tiếp tục cuộc sống chung mà không thể tự hòa giải, hàn gắn. Bà và ông H không còn sống chung với nhau từ tháng 01/2022 cho đến nay. Bà nhận thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên yêu cầu ly hôn với ông Quách Văn H. Về con chung có 01 người tên là Quách Thành D (giới tính nam), sinh ngày 14/01/2021 hiện do bà đang nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn đã được triệp tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp lời khai chứng cứ.

Đại diện chính quyền địa phương xã nơi hai bên đương sự sinh sống xác định: Bà Trần Mọng L và ông Quách Văn H không có yêu cầu hòa giải nên chính quyền địa phương không xác định được tình trạng mâu thuẫn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho bà Trần Mọng L ly hôn với ông Quách Văn H. Giao con chung tên là Quách Thành D (giới tính nam), sinh ngày 14/01/2021 cho bà Trần Mọng L tiếp tục nuôi, ông Quách Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, đồng thời không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Bà Trần Mọng L yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Quách Văn H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Quách Văn H vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

[2]. Xét về hôn nhân: Bà Trần Mọng L và ông Quách Văn H chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh C và được chứng nhận vào ngày 16/3/2020. Việc kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa Bà Trần Mọng L và ông Quách Văn H được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà Trần Mọng L xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và không thể tiếp tục cuộc sống chung. Bà và ông Quách Văn H không còn sống chung với nhau từ tháng 01 năm 2022 đến nay mà không thể tự hòa giải, hàn gắn. Bà Trần Mọng L nhận thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên yêu cầu ly hôn với ông Quách Văn H. Ông Quách Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp lời khai chứng cứ cho Tòa án xem xét, cho thấy ông Quách Văn H không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Mọng L và ông Quách Văn H đã và đang trầm trọng. Bà Trần Mọng L cương quyết yêu cầu ly hôn. Do đó, việc bà Trần Mọng L yêu cầu ly hôn với ông Quách Văn H là có căn cứ để chấp nhận.

[3]. Về con chung: Có 01 người tên là Quách Thành D (giới tính nam), sinh ngày 14/01/2021 hiện do bà L đang nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, con chung hiện tại chưa đủ 36 tháng tuổi do đó việc giao con cho bà L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà L. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.

[4]. Về tài sản chung: Bà Trần Mọng L yêu cầu tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5]. Về nợ chung: Bà Trần Mọng L xác định không có đồng thời không có yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[6]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Mọng L phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 9, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Mọng L ly hôn với ông Quách Văn H.

2. Về con chung: Giao cho Bà Trần Mọng L chịu trách nhiệm tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Quách Thành D (giới tính nam), sinh ngày 14/01/2021 cho đến khi Quách Thành D đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống. Ông Quách Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Trần Mọng L về việc không yêu cầu ông Quách Văn H cấp dưỡng nuôi con.

Ông Quách Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Mọng L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà Trần Mọng L đã nộp xong tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017676, ngày 14 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bà Trần Mọng L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Quách Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ