- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Thành Đ tranh chấp ly hôn, nuôi con với chị Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 80/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05-8-2022. V/v “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Thị Thu Hà;
2. Bà Trần Thị Quế Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 253/2022/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 5 năm 2022 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/6/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1984 (có mặt);
Cư trú: Tổ 2, ấp Hòa L 2, thị trấn An C, CT, An Giang.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Cư trú: Tổ 16, ấp Hòa L 2, thị trấn An C, CT, An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Thành Đ trình bày:
Do tự tìm hiểu nên anh và chị Nguyễn Thị T quyết định chung sống với nhau vào năm 2006, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn An C, huyện CT, An Giang vào ngày 27/12/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc bên gia đình anh được một thời gian gần 09 năm, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, nguyên nhân do cuộc sống chung không hòa hợp, bản thân anh cũng có một phần lỗi là thường xuyên ăn chơi, chơi số đề, đánh bạc, đá gà….thỉnh thoảng cũng ăn nhậu và không lo cho vợ con nên vợ chồng không tôn trọng và quan tâm lẫn nhau, thường xuyên xảy ra xung đột, do vậy không còn tình cảm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, sau đó vợ bỏ đi và ly thân từ đó đến nay, hiện tại anh xác định vợ đã có người đàn ông khác. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Quá trình chung sống giữa anh và chị T có 02 con chung tên Nguyễn Phước Th, sinh ngày 23/11/2006 và Nguyễn Thị Kim X, sinh ngày 12/5/2012; Hiện cháu Th đang sống với anh, còn cháu X đang sống với ngoại, sau khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi 02 cháu Th và X, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị T: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng chị T đều vắng mặt không lý do. Tại Biên bản xác minh ngày 29/6/2022 (BL 47) thể hiện chị T cư trú tại ấp Hòa L 2, thị trấn An C, huyện CT, tỉnh An Giang; Hiện tại chị Nguyễn Thị T đi làm thường xuyên, ít có mặt tại nhà và không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành Đ.
Tại phiên tòa:
- Anh Đ xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị T; Về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu Kim X và Phước Th, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Chị T: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thành Đ, giải quyết cho anh Đ được ly hôn với chị T; về con chung: Tiếp tục giao cháu Kim X và Phước Th cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Đ không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Đ phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Thành Đ và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 12 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân thị trấn An C, huyện CT nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay anh Đ và chị T phát sinh mâu thuẫn, nên anh Đ yêu cầu ly hôn với chị T. Chị T có hộ khẩu thường trú ở ấp Hòa L 2, thị trấn An C, huyện CT, tỉnh An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh An Giang.
Chị Nguyễn Thị T là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thành Đ xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau khi cưới được gần 09 năm đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị T.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa anh Đ và chị T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của chị T theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do chị T vắng mặt tại nhà. Quá trình giải quyết chị T đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng chị T vẫn không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với anh Đ. Mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai đối với bà Nguyễn Thị N là mẹ ruột của chị T (BL 48-49) thể hiện: Quá trình chung sống giữa anh Đ và chị T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cha mẹ hai bên cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành; về quan hệ con chung giữa anh Đ và chị T, bà N khai phù hợp như lời trình bày của anh Đ. Bà N xác nhận gia đình có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa triệu tập đới với chị T, nhưng vì bận làm ăn xa nên không đến Tòa tham dự được, giữa anh Đ và chị T đã ly thân nhiều năm nay và cũng không có khả năng đoàn tụ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của anh Đ và chị T đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thành Đ là được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Anh Nguyễn Thành Đ thừa nhận 02 cháu tên Nguyễn Phước Th, sinh ngày 23/11/2006 và Nguyễn Thị Kim X, sinh ngày 12/5/2012 là con chung của chị và chị Nguyễn Thị T, mặt khác giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận 02 cháu tên Nguyễn Phước Th và Nguyễn Thị Kim X là con chung của anh Đ và chị T, hiện cháu Th đang sống với anh, riêng cháu X đang sống với ngoại. Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Thành Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh, chị không còn sống chung nữa thì cháu Th sống với anh Đ, cháu X sống với ngoại, đồng thời Tòa án tiến hành lấy lời khai của hai cháu thì các cháu đều có nguyện vọng được sống với ba (BL số 30-31). Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống cho các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thành Đ là giao hai cháu X và Thành cho anh Đ được tiếp tục nuôi dưỡng.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Thành Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Chị Nguyễn Thị T có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Do anh Nguyễn Thành Đ có yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị T nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thành Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 289/KH, quyển 02/2006 ngày 27/12/2006 do Uỷ ban nhân dân thị trấn An C (huyện CT, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận 02 cháu tên Nguyễn Phước Th, sinh ngày 23/11/2006 và Nguyễn Thị Kim X, sinh ngày 12/5/2012 là con chung của anh Nguyễn Thành Đ và chị Nguyễn Thị T;
+ Tiếp tục giao cháu Nguyễn Phước Th và Nguyễn Thị Kim X cho anh Nguyễn Thành Đ được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện cháu Th đang sống với anh Đ; cháu X đang sống chung với ngoại); Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Thành Đ, do anh Đ không yêu cầu;
+ Anh Nguyễn Thành Đ cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Thành Đ phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0005037 ngày 18/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CT, tỉnh An Giang, được khấu trừ nên anh Nguyễn Thành Đ đã nộp xong.
5. Anh Nguyễn Thành Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND.CT; - Chi cục THADS.CT; - UBND TT. An C; - Phòng KTNV và THA; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh |