- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Thị K/Nguyễn Thị Thu T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2022/DS-ST Ngày 02-8-2022 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Liên;
2. Bà Nguyễn Thị Bích Hiển.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Thường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 50/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2022, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2022/QĐST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 1989;
Nơi cư trú: Khu phố S, phường B, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: Thôn L, xã A, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/5/2022 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn Trần Thị K trình bày:
Ngày 20/02/2019 (âm lịch), bà Nguyễn Thị Thu T có mượn của bà số tiền 160.000.000 đồng. Sau đó, ngày 13/02/2020, bà T mượn tiếp số tiền 190.000.000 đồng, tổng cả 02 lần bà T mượn của bà số tiền 350.000.000 đồng, có viết giấy mượn tiền cả hai bên cùng ký tên, không tính lãi suất vì là chỗ bà con với nhau, số tiền này là của riêng bà, khi mượn hai bên thống nhất khi nào bà cần tiền thì bà T sẽ trả lại số tiền trên. Nhưng sau đó, khi cần tiền bà gọi điện và đến nhà để đòi số tiền trên nhưng bà T không chịu trả. Bà T sau đó cấn trừ xe môtô trị giá 60.000.000 đồng và trả cho bà 10.000.000 đồng, hiện giờ còn nợ bà số tiền 280.000.000 đồng. Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thu T trả số tiền 280.000.000 đồng trong vòng một lần, không yêu cầu tính lãi suất chậm trả.
Tại bản tự khai ngày 26/5/2022 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, bị đơn Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Bà xác định có mượn và còn nợ bà Trần Thị K số tiền 280.000.000 đồng, khi mượn thỏa thuận lãi suất bằng miệng cứ 10.000.000 đồng mỗi tháng trả 600.000 đồng tiền lãi, bà mượn tiền với mục đích để mua bán Dó trầm, nhưng do trong quá trình mua bán, vườn Dó trầm bị chết hết đến thời điểm không thu hoạch được nên bị thua lỗ rất nhiều, từ đó cũng không lấy được vốn nên không có tiền trả cho bà K. Việc mượn tiền của bà K chồng bà không biết, nay bà có trách nhiệm trả nợ cho bà K. Hiện giờ, do điều kiện kinh tế khó khăn, bà K yêu cầu bà trả số tiền 280.000.000 đồng thì bà đồng ý nhưng cho bà trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện cũng như các thủ tục tố tụng tiếp theo trong quá trình chuẩn bị xét xử đều được Thẩm phán thực hiện đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Nguyễn Thị Thu T phải trả cho nguyên đơn Trần Thị K số tiền còn nợ là 280.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Trần Thị K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thu T ở thôn L, xã A, huyện Hoài Ân phải trả số tiền 280.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất chậm trả, đây là khoản tiền bà T mượn của bà K để mua bán Dó trầm nên Tòa án xác định đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Thị Thu T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị K trình bày: Bà vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu T phải trả số tiền vay còn nợ là 280.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất chậm trả.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 20/02/2019 (âm lịch) và ngày 13/02/2020, bà Nguyễn Thị Thu T có mượn của bà Trần Thị K tổng số tiền là 350.000.000 đồng, không tính lãi suất với mục đích để mua bán Dó trầm và thỏa thuận khi nào bà K cần tiền thì bà T sẽ trả toàn bộ số tiền đã mượn. Nhưng sau đó, bà K cần tiền đến đòi thì bà T chỉ trả được 70.000.000 đồng. Từ đó đến nay, bà K nhiều lần hỏi nợ nhưng bà T chỉ hứa hẹn chứ không trả. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết nên nguyên đơn Trần Thị K đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải trả số tiền còn nợ là 280.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất chậm trả là là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử cần tuyên buộc bị đơn Nguyễn Thị Thu T phải trả cho nguyên đơn bà Trần Thị K số tiền 280.000.000 đồng.
Đối với lời nại của bị đơn Nguyễn Thị Thu T thừa nhận đã mượn và còn nợ bà Trần Thị K số tiền 280.000.000 đồng và đồng ý trả nợ, nhưng xin được trả dần, mỗi tháng trả 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ là không có thiện chí trả nợ, nhằm chiếm dụng lâu dài khoản tiền trên của nguyên đơn nên không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho bà Trần Thị K tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị K.
Buộc bị đơn Nguyễn Thị Thu T phải trả cho nguyên đơn Trần Thị K số tiền 280.000.000 (hai trăm tám mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn Nguyễn Thị Thu T phải chịu 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng.
Hoàn trả 7.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010600 ngày 11/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân cho nguyên đơn Trần Thị K.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại Tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh; - Các bên đương sự; - CC THADS huyện Hoài Ân; - Lưu HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Tâm |