- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2021/HS-ST Ngày 12/10/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Thân
2. Bà Chu Hạ Uyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện VKS nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Chinh, Kiểm sát viên.
Ngày 12/10/2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2021/HSST ngày 28/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2021/QĐXXST-HS ngày 05/8/2021; Thông báo về việc tạm dừng mở phiên tòa sơ thẩm số: 08/2021/HSST-QĐ ngày 18/8/2021 và Thông báo về việc thời gian mở lại phiên tòa số: 25/2021/TB-TA ngày 05/10/2021 đối với:
Bị cáo: NGUYỄN HỒNG S, sinh năm 2002, tại Đồng Nai; nơi cư trú: khu phố 1, phường Tr, thành phố K, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng K, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Kim Đ, sinh năm 1974. Gia đình bị cáo có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2005 bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Tiền án: Không. Tiền sự: không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2021, đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1984. Nơi cư trú: xã Tân T, huyện Hàm T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Hà Ái L, sinh năm 2003. Nơi cư trú: 94/4 đường Trần Phú, khu phố 3, phường A, thành phố Long K, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
- Người chứng kiến:
1. Ông Bùi Ngọc B, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp 1, xã L, thành phố K, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Minh Tr, sinh năm 1989. Nơi cư trú: ấp 3, xã L, thành phố K, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hồng S bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2020, hình thức và loại ma túy mà S sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine). Vào khoảng 23 giờ ngày 14/01/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Sơn mượn xe mô tô biển số 66B8 -26140 của chị Nguyễn Hà Ái L, sinh năm 2003, ngụ khu phố 3, phường A, thành phố K, tỉnh Đồng Nai (là bạn gái của S) đến khu vực thị trấn Gia R, huyện Xuân L, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, sử dụng điện thoại di động hiệu Redmi 7A màu đen, có số sim 0349104081 gọi điện thoại đến số 0902187870 liên lạc với một người thanh niên tên Út (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) hỏi mua 4.500.000đ được 01 bịch ma túy đá. Sau khi mua được ma túy thì Sơn cất giấu trong người rồi mang về thành phố K sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 15/01/2021, Sơn bỏ số ma túy trên vào túi quần bên trái, phía sau và điều khiển xe mô tô biển số 66B8 - 26140 lưu thông trên đường số 5, thuộc ấp 1, xã L, thành phố K, tỉnh Đồng Nai thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh bắt quả tang, thu giữ tang vật và niêm phong theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 134/KLGĐ-PC09 ngày 19/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 10,00013gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/HĐĐGTTTHS ngày 14/4/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Khánh kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 7A, IMEI 1: 868679043817826, màu đen, đã qua sử dụng (thời điểm tháng 01/2021), có giá trị 500.000đ (năm trăm ngàn đồng).
Vật chứng thu giữ gồm:
+ 01 bịch nylong chứa tinh thể màu trắng thu giữ trong túi quần bên trái bị cáo Sơn đang mặc.
+ 01 điện thoại di động hiệu Redmi 7A màu đen cùng số sim 0349104081.
+ 01 xe mô tô biển số 86B6 -261.40. Quá trình điều tra, xác định đây là tài sản của chị Nguyễn Hà Ái L, khi Sơn mượn xe chị L không biết Sơn sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai đã trả cho chị L.
Toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 134/KLGĐ-PC01 và 01 điện thoại di động hiệu Redmi 7A màu đen cùng số sim 0349104081 chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng số 61/CT-VKS-LK ngày 27/5/2021 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hồng S từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định; tịch thu sung công quỹ Nhà nước điện thoại di động hiệu Redmi 7A màu đen cùng số sim 0349104081.
Đối với chủ thuê bao 0902187870 qua xác minh xác định đối tượng tên Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp Việt Kiều, xã Suối Cát, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Hiện nay, H không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Hồ sơ chỉ có duy nhất lời khai của Sơn khai mua ma túy từ Hi, ngoài ra không có chứng cứ nào khác. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đề nghị Công an huyện Xuân Lộc phối hợp xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin giảm nhẹ hình phạt để trở về với gia đình và xã hội, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định, vật chứng thu được, cùng tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 15/01/2021, S điều khiển xe mô tô biển số 66B8 -26140 lưu thông trên đường số 5, thuộc ấp 1, xã L, thành phố K, tỉnh Đồng Nai thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh kiểm tra hành chính phát hiện trong túi quần bên trái có 01 bịch nghi là ma túy, qua giám định xác định 01 bịch ma túy thu giữ trên người của bị cáo là ma túy dạng Methamphetamin, có trọng lượng 10,00013gam.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng số 61/CT-VKSLK ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo một môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hiểm họa của ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ tình tiết liên quan đến vụ án đã ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội nên cần xử bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung, phạt tiền bị cáo để sung quỹ Nhà nước theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về vật chứng vụ án:
+ 01 gói niên phong số 134/LKGĐ-PC09 ngày 19/02/2021, bên trong chứa mẫu vật ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;
+ 01 điện thoại di động hiệu Redmi 7A màu đen cùng số sim 0349104081. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung công quỹ Nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.
+ 01 xe mô tô biển số 86B6 -261.40 do chị Nguyễn Thị Mỹ D đứng tên chủ sở hữu, chị D xác nhận đã bán xe trên cho chị Nguyễn Hà Ái L nên xác định đây là tài sản của chị Nguyễn Hà Ái L, khi S mượn xe chị L không biết S sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai đã trả cho chị Linh là đúng quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Đối với chủ thuê bao 0902187870 qua xác minh xác định đối tượng tên Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp K, xã C, huyện Xuân L, tỉnh Đồng Nai. Hiện nay, H không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Hồ sơ chỉ có duy nhất lời khai của S khai mua ma túy từ H, ngoài ra không có chứng cứ nào khác. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đề nghị Công an huyện Xuân Lộc phối hợp xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như đề xuất về hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm vào “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng S 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong số 134/LKGĐ-PC09 ngày 19/02/2021, bên trong chứa mẫu vật ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Tịch sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 7A màu đen cùng số sim 0349104081.
(Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2021).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Hà Ái L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Mỹ D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kẻ từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND thành phố Long Khánh; - CQCSĐT Công an thành phố Long Khánh; - CQ THAHS Công an thành phố Long Khánh; - Chi cục THADS thành phố Long Khánh; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |