- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2021/HS-ST Ngày 22-6-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bỉnh Thái
Bà Đào Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quế-Thư ký TAND huyệ n Tiên Du
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 99/2021/TLST-HS ngày 31/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2021/QĐXXST-HS ngày 09/6/2021 đối với bị cáo:
Vi Văn T, sinh năm 1990; HKTT: Thôn 5, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn T, sinh năm 1965 và con bà Hoàng Thị T, sinh năm 1968; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/3/2021 đến 12/3/2021 được thay thế sang biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện nay bị cáo tại ngoại – Có mặt
*Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952 (đã chết)
HKKT: Tổ 4a khu 5, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh
Tạm trú: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện hợp pháp:
1/Anh Đào Đức H1, sinh năm 1979
Địa chỉ: Tổ 4a khu 5, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh
2/ Chị Đào Thị Thu H2, sinh năm 1982
Địa chỉ: Tổ 14, khu 1, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh
Đại diện theo ủy quyền: Anh Đào Đức H1, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 4a khu 5, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh
(Theo giấy ủy quyền ngày 12/3/2021)
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần đầu tư và thương mại H3 (Viết tắt Công ty H3)
Địa chỉ: Số 9 LK27 khu dân cư N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy T; Chức vụ: Giám đốc (có mặt)
Địa chỉ: Số 67 C tổ 9 khu M, phường K, quận H, thành phố Hà Nội
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 50 phút ngày 09/3/2021 tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường TL287 với đường liên xã C, địa phận thôn Đ, xã H, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô trộn bê tông Biển kiểm soát (BKS) 29C-473.93 do Vi Văn T điều khiển với xe mô tô BKS 14F2-1234 do bà Nguyễn Thị H điều khiển phía trước cùng chiều. Hậu quả bà H tử vong tại chỗ. Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám phương tiện. Kết quả như sau:
* Kết quả khá m nghiệ m hiệ n trƣờ ng xả y ra tai nạ n:
- Hiện trường nơi xảy ra tại nạn: Tại ngã tư giao nhau giữa đường TL287 và đường liên xã C, địa phận thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Đường TL287 được chia thành hai chiều đường riêng biệt ngăn cách bởi dải phân cách bó vỉa bê tông cứng rộng 02m, cao 0,2m so với mặt đường và đều được trải nhựa phẳng rộng có cùng số đo là 10,3m. Tính theo chiều từ P đi cầu Đ, bên phải đường tiếp giáp tại vị trí giao nhau ngã tư có lối mở rộng 5,2m đi vào khu nhà vườn Đ. Tiếp tục đi thẳng có điểm giao nhau ngã ba đi về phía bên phải là lối ra đường QL1A, đi thẳng là cầu Đ. Bên trái đường tiếp giáp là lối mở rộng 37m và thu hẹp dần từ số đo cuối là 17m, là đường liên xã C. Đường liên xã cũng là đường hai chiều được ngăn cách bởi dải phân cách bó vỉa bê tông cứng rộng 03m, cao 0,2m so với mặt đường và đều được trải nhựa phẳng rộng có cùng số đo là 7m. Hiện trường còn nguyên vẹn.
- Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: (1)Tử thi; (2)Đám máu; (3)Vết cày xước; (4)Đám gạch và nhựa vỡ.
- Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Quy ước phải trái đường TL287 được tính theo chiều từ cầu Đ đi P, các số đo được đo vuông góc vào mép phải đường. Chọn điểm đầu dải phân cách trên đường TL287 hướng nhìn về phía cầu Đ đo theo phương vuông góc làm mốc.
- (1) Tử thi: Tử thi nằm úp tại vị trí giao nhau giữa ngã tư, đầu tử thi hướng chếch chéo về phía Đại Đồng, hai chân chếch chéo khu nhà vườn Đ, tay phải dọc theo thân người, tay trái hướng chếch chéo khu nhà vườn Đ. Đầu tử thi cách mép đường chuẩn là 10,6m, hai gót chân cách nhau 0,2m.
- Phương tiện:
+ Xe mô tô BKS 14F2-1234 đổ nghiêng sang phải trên bề mặt ngã tư giao nhau. Đầu xe hướng chếch chéo khu nhà vườn, đuôi xe hướng chếch chéo phía Đ. Đầu trục bánh trước cách mép đường là 13,8m và cách vị trí mốc được chọn về phía P là 14m, cách đầu tử thi về phía Đ là 4m. Đầu trục bánh sau cách mép đường là 12,8m và cách gót chân phải tử thi về phía Đại Đồng là 1m.
+ Xe ô tô BKS 29C-473.93 đỗ trên mặt đường TL287 chiều đường cầu Đ đi P. Đầu xe hướng P, đuôi xe hướng cầu Đ. Đầu trục bánh trước bên phải cách mép đường là 1,1m. Đầu trục bánh ba bên phải cách mép đường là 1,2m và cách đầu trục bánh trước xe mô tô BKS 14F1-1234 về phía cầu Đ là 40m. Đầu trục bánh ba bên trái cách vị trí mốc được chọn về phía cầu Đ là 25m.
- Dấu vết:
+ (2) Đám máu có diện (1x1)m nằm tại vị trí phía dưới đầu tử thi. Tâm của đám cách mép đường là 9,3m và cách đầu trục bánh trước xe mô tô BKS: 14F2-1234 về phía khu nhà vườn Đ là 4m.
+ (3) Vết cày xước có diện (5,5x0,6)m trên bề mặt đường ngã tư giao nhau. Điểm đầu của vết cách mép đường là 11,3m và cách tâm của đám máu về phía P là 6,3m. Điểm cuối của vết cách mép đường là 13,4m. Vết có dạng không liền mạch và có chiều từ cầu Đ đi P.
+ (4) Đám gạch và nhựa vỡ có diện (2,5x1)m. Tâm của đám cách mép đường là 11,2m và cách đầu trục bánh sau xe mô tô BKS 14F2-1234 là 0,6m. Đám nằm rải rác trên bề mặt ngã tư giao nhau quanh khu vực tử thi và xe mô tô BKS 14F2-1234.
* Kết quả khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị H:
- Khám ngoài: Các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Biến dạng toàn bộ vùng đầu mặt. Vùng cổ bên phải đến vùng ngực bên phải có diện sây sát da không liên tục KT(20x13)cm. Vùng trên xương đòn bên phải có vết rách da KT(11x2,5)cm, bờ mép nham nhở, còn cầu tổ chức ở đáy vết thương. Thành ngực bên phải mất vững. Vùng ngực bên trái ngay dưới xương đòn trái cách đường giữa 4cm có vết bầm tím KT(6x5)cm. Vùng bụng không phát hiện tổn thương. Khung chậu vững, bộ phận sinh dục không phát hiện tổn thương. Mặt sau 2/3 trên cánh tay phải có diện hằn bầm tím KT(20x8)cm. Mặt trong 2/3 dưới cánh tay phải có vết rách da KT(4x15)cm, bờ mép nham nhở. Mặt sau khuỷu tay phải có vết sây sát da KT(1,5x1,5)cm. Vùng lưng có diện hằn sây sát da KT(20x17)cm.
- Mổ tử thi: Giải phẩu vùng đầu mặt theo vết rách da thấy da và tổ chức dưới da vùng đầu mặt bầm dập, bong tróc. Vỡ phức tạp hoàn toàn xương hộp sọ và xương hàm mặt thành nhiều mảnh vỡ làm nát tổ chức nhu mô não.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 85/KLPY-PC09 ngày 22 tháng 3 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị H, SN 1952 ở C, P, T, Bắc Ninh là chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, dập nát tổ chức não”.
* Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện:
- Xe ô tô trộn bê tông, nhãn hiệu FAW, BKS 29C-473.93:
+ Dấu vết trên phương tiện: Mặt trước ngoài bên phải ba đờ sốc trước, cách mép dưới cụm đèn chiếu sáng 3cm có dấu vết chà xước sơn không liên tục trên diện (17x23)cm, chiều hướng từ trước về sau, bề mặt dấu vết còn mới, điểm thấp nhất đầu vết cách nền 66cm, tâm dấu vết cách nền 79cm. Trên diện dấu vết chà xước này phát hiện dấu vết màu xanh không liên tục KT(14,5x2)cm, điểm thấp nhất của dấu vết cách nền 71cm. Mặt trước phía dưới của ba đờ sốc trước, cách nền 67cm, cách mép ngoài bên phải ba đờ sốc trước 124cm phát hiện dấu vết mài trượt không liên tục trên diện (55x2)cm. Cách dấu vết này 10cm về phía bên phải, cách nền 70cm phát hiện dấu vết màu xanh không liên tục KT(4,5x0,3)cm. Mặt ngoài trước bên trái ba đờ sốc phía trước, phía dưới cụm đèn chiếu sáng rải rác có một số dấu vết chà xước nhẹ, không liên tục trên diện (80x27)cm. Mặt ngoài má lốp trước bên trái của hàng lốp thứ nhất (tính từ phía đầu xe về phía đuôi xe) phát hiện đám dấu vết màu nâu không liên tục dạng bắn, thấm trên diện (26x30)cm, tâm dấu vết cách trục 45cm, cách chữ “O” trong chữ “ONYX” 28cm. Từ mặt lăn lốp của lốp goài hàng thứ hai bên trái đến diện lốp tương ứng phía trong rải rác bám dính dấu vết màu nâu không liên tục trên diện (24x10)cm, tâm dấu vết cách trục 50cm. Mặt lăn lốp của lốp ngoài hàng lốp thứ ba bên trái, cách trục 52cm, cách chữ “M” trong chữ “MIRACLE” 56cm phát hiện bám dính chất màu nâu không liên tục trên diện (19x16)cm. Cạnh dưới phía sau cản trước có diện 04 dấu vết tróc sơn, vị trí dấu vết cách đầu cản trước bên trái 100cm, cách mặt đỗ xe 64cm, 04 dấu vết nằm ngang theo cạnh trước KT các dấu vết theo thứ tự từ trái sang phải lần lượt là: vết 1 KT(2,8x0,1)cm, vết 2 KT(1,3x0,1)cm cách vết 1 là 1cm, vết 3 KT(2,2x0,1)cm cách vết 2 là 2,6cm, vết 4 KT(0,9x0,1)cm cách vết 3 là 4cm, toàn bộ diện dấu vết này có KT(15x0,1)cm. Cạnh dưới bên trái của tai kim loại gắn tại phía sau cản trước này, cách dấu vết 4 là 0,5cm về bên phải có dấu vết trượt xước KT(1x0,2)cm.
+ Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống kỹ thuật an toàn phương tiện hoạt động bình thường.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 14F2-1234:
Mất gương chiếu hậu bên phải, mặt trước chân gương vị trí tiếp xúc với gương phát hiện dấu vết chà xước kim loại KT(0,6x0,7)cm. Mặt ngoài ốp tay nắm bên phải bị cong vênh, biến dạng nhẹ, dải dác có vết chà xước không liên tục KT(3,5x3)cm, phần nhựa ở giữa nứt vỡ. Mặt trên trước tay phanh bên phải phát hiện dấu vết chà xước kim loại KT(0,7x0,6)cm. Vỡ ốp nhựa của cụm đèn xi nhan bên phải KT(5,5x4,2)cm. Phần tay nắm bên phải hơi lệch sang bên phải. Mặt ngoài để chân trước bên phải có dấu vết chà xước kim loại KT(1,3x1,2)cm, để chân này bị lệch nhẹ từ trước về sau. Mặt ngoài cụm đèn xi nhan phía sau bên phải có vết chà xước nhựa KT(1,3x0,8)cm, phần ốp kim loại bảo vệ bị lệch theo hướng từ trên xuống dưới. Mặt ngoài ốp nhựa thụt giảm sóc phía sau bên trái, cách nền 55cm phát hiện dấu vết chà xước nhựa KT(2x1)cm, màu xanh. Trên yên xe phía sau có chở 01 hộp gạch ốp tráng men, phần vỏ hộp giấy phía sau bị rách, toàn bộ diện gạch phía sau bị nứt vỡ một phần, tâm dấu vết cách nền 77cm, điểm cao nhất cách nền 83cm, các viên gạch ở tình trạng bị xê dịch theo hướng từ sau về trước. Mặt trên khung kim loại gắn phía trên đèn phanh, cách đầu khung phía sau 8cm có diện dấu vết trượt bám chất màu trắng KT(15x3,5)cm, cách mặt đứng xe 69cm. Trên diện dấu vết này gồm 04 dấu vết, kích thước theo thứ tự từ trái qua phải là (1,5x0,1)cm, (0,7x0,1)cm, (0,5x0,1)cm, (1,5x0,1)cm.
Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống kỹ thuật an toàn phương tiện hoạt động bình thường.
- Tại bản kết luận giám định số: 124/KLGĐ(CH)-PC09 ngày 19/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Các dấu vết trượt, bám chất màu trắng tại mặt trên khung kim loại phía trên đèn phanh xe mô tô BKS: 14F2-1234 hình thành do va chạm với mặt cạnh dưới phía sau cản trước trên xe ô tô BKS: 29C-473.93, cách đầu bên trái cản trước 100cm tạo nên là phù hợp. Dấu vết va chạm trên xe ô tô BKS: 29C-473.93 tại vị trí này có chiều từ trước về sau. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô BKS: 29C-473.93 và xe mô tô BKS: 14F2-1234 là vị trí trên hai phương tiện nêu tại mục trên. Chiều hướng va chạm từ trước về sau xe ô tô BKS: 29C-473.93, từ sau ra trước xe mô tô BKS: 14F2-1234”.
- Tại bản kết luận giám định số: 74/GĐ Hóa-PC09 ngày 26/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất màu trắng bám dính trên bề mặt khung kim loại bảo vệ đèn phanh phía sau xe mô tô BKS: 14F2-1234 gửi giám định là sơn, cùng loại với mẫu sơn màu trắng thu tại bề mặt ngoài cản trước xe ô tô trộn bê tông BKS: 29C-473.93 gửi làm mẫu so sánh”.
Sau khi vụ tai nạn xảy ra Cơ quan Công an đã kiểm tra nồng độ cồn, ma túy: Kết quả Vi Văn T không sử dụng ma tuý, trong người không có nồng độ cồn.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 62/CT - VKS ngày 31/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du đã truy tố bị cáo Vi Văn T về tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng. Bị cáo có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp ngày 05/01/2021. Bị cáo là lái xe của Công ty H3. Công ty giao cho bị cáo trực tiếp quản lý, vận hành xe ô tô trộn bê tông BKS 29C-473.93 và được phân công làm việc tại Trạm bê tông Bắc Ninh từ ngày 20/11/2020. Ngày 09/3/2021, do Trạm trộn bê tông Chi nhánh Đ gặp sự cố, không trộn được bê tông nên anh Nguyễn Văn Q điều động bị cáo về Trạm trộn bê tông Chi nhánh M để làm việc. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 29C-473.93 đi từ Trạm trộn bê tông Chi nhánh Đ đến Trạm trộn bê tông Chi nhánh M. Quá trình di chuyển trên cầu vượt Đ hướng đường TL287 đi P, do bị cáo không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước nên không phát hiện bà H đang di chuyển phía trước đầu xe ô tô dẫn đến va chạm. Hậu quả bà H tử vong tại chỗ. Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là sai nên cùng Công ty H3 bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 200.000.000 đồng.
Đại diện hợp pháp của bị hại anh H1 trình bày tại phiên tòa: Anh đã nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng do bị cáo và Công ty H3 bồi thường bao gồm: Mai táng phí, tổn thất tinh thần, hư hỏng phương tiện sau tai nạn...Đến nay anh không có yêu cầu về dân sự và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Anh đã nhận lại chiếc xe mô tô BKS: 14F2-1234 nhưng không yêu cầu định giá về thiệt hại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự.
Đại diện theo pháp luật của Công ty H3 trình bày tại phiên tòa: Sau khi xảy ra sự việc công ty H3 cùng bị cáo T đã bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 200.000.000 đồng. Công ty H3 không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền bồi thường trên. Ngoài ra Công an huyện Tiên Du đã trả lại cho Công ty H3 xe ô tô BKS: 29C-473.93, đến nay Công ty không yêu cầu định giá về thiệt hại tài sản và bồi thường thiệt hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 62/CT-VKS-TD ngày 31/5/2021. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1/ Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
2/ Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết
4/ Về xử lý vật chứng áp dụng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định. Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội, không tranh luận. Đại diện theo ủy quyền của bị hại, đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, đại diện hợp pháp của bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 14 giờ 50 phút ngày 09/3/2021 tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường TL287 với đường liên xã C, địa phận thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Vi Văn T trong quá trình điều khiển xe ô tô trộn bê tông BKS 29C-473.93 đi từ cầu Đ đến đường TL 287 do không chú ý quan sát nên mặt cạnh dưới phía sau cản trước trên xe ô tô đã va chạm với mặt trên khung kim loại phía trên đèn phanh của xe mô tô BKS 14F2-1234 do bà Nguyễn Thị H điều khiển phía trước, cùng chiều. Hậu quả bà H từ vong tại chỗ.
Tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định:
“23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.”
Tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định về tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe:
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo”.
Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, Cáo trạng truy tố bị cáo với tình tiết định tội “Làm chết người” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của những người tham gia giao thông. Ngoài ra còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đì nh bị hại và được đại diện gia đì nh bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo ra cơ quan Công an đầu thú. Vì vậy, bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo tích cực bồi thường cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại cũng có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo cũng có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đã nhận 200.000.000 đồng tiền bồi thường gồm mai táng phí, tổn thất tinh thần...Đến nay đại diện bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với chiếc xe ô tô và chiếc xe mô tô Công ty H3, anh H1 đã nhận lại nhưng không có yêu cầu gì về chi phí sửa chữa nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy. Ngoài ra đối với 01 giấy phép lái xe của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định trả lại bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Vi Văn T 16 (mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 (ba mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vi Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì mẫu vật hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 2023/C09-TT3 ngày 19/4/2021 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2021)
- Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe số 250168001995 do Sở giao thông vận tải tỉnh Yên Bái cấp ngày 05/01/2021.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận; - TAND tỉnh Bắc Ninh; -VKSND tỉnh Bắc Ninh - VKSND huyện Tiên Du; - Công an huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Quang |