vanban.org

Bản án 80/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp với 04 (bốn) năm 05 (năm) tháng 19 (mười chín) ngày tù chưa chấp hành theo Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2021/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã BC, tỉnh Bình Dương về tội “Cướp tài sản”, buộc bị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Minh Tới phạm tội Trốn khơi nơi giam - phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (điều 386 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2021/HS-ST
Ngày 29/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Trại giam An Phước, Cục C10, Bộ Công An đóng tại xã AT, huyện P, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Minh T, sinh ngày 28/7/1995 tại Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện CN, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn L, sinh năm 1955 và bà Lê Thị H (chết); tiền án: 01 tiền án (Ngày 31/3/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã BC, tỉnh Bình Dương xử phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020, hiện đang chấp hành án tại Trại giam An Phước); tiền sự: Không.

Bị cáo đang chấp hành án tại Phân trại số 3, Trại giam An Phước, Cục C10, Bộ Công an. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Hữu H (vắng mặt);

2. Ông Tô Văn H1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Minh T là phạm nhân đang chấp hành án tại Đội số 18, Phân trại số 3 của Trại giam An Phước, Cục C10, Bộ Công An đóng trên địa bàn ấp 5, xã AT, huyện P, tỉnh Bình Dương. Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 26/7/2021, cán bộ quản giáo Tô Văn H1 và Nguyễn Hữu H là cảnh sát bảo vệ đưa phạm nhân T cùng 34 phạm nhân của Đội số 18, Phân trại số 3 đi lao động tại khu vực vườn chuối thuộc Phân trại số 3. Khi đến khu vực lao động, T cùng với phạm nhân Nguyễn Thanh H2, Lư Tấn Q được giao nhiệm vụ thu gom lá chuối và chồi chuối. Đến 10 giờ 50 phút, cán bộ tập trung phạm nhân lại tại nhà lô của đội để kiểm tra và cho ăn cơm, nghỉ trưa tại chỗ. Sau khi ăn cơm xong, trong lúc nghỉ trưa T lợi dụng lúc cán bộ quản giáo không chú ý, T đi vào khu vực vườn chuối trèo qua hàng rào kẽm gai đi bộ qua vườn cao su đến khu vực vườn tràm trốn. Khoảng 13 giờ cùng ngày, cán bộ quản giáo kiểm tra số lượng phạm nhân thì phát hiện Đặng Minh T không có mặt tại vị trí nghỉ ngơi nên tổ chức tìm kiếm. Lúc này, cán bộ quản giáo Tô Văn H1 phát hiện phạm nhân bỏ trốn nên yêu cầu cán bộ Nguyễn Hữu H nổ súng báo động, lực lượng Công an trại giam truy tìm phạm nhân T đến 15 giờ cùng ngày thì phát hiện Đặng Minh T trốn tại vườn tràm cách vị trí lao động khoảng 500m.

Tại bản Cáo trạng số 90/CT-VKSPG ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Đặng Minh T về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố của Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Đặng Minh T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, tổng hợp với thời gian chưa chấp hành của bản án trước, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2021.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải mong muốn được xét xử nhẹ để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Minh T khai nhận: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 26/7/2021, sau khi nghỉ trưa, ăn cơm cùng 34 phạm nhân tại nhà lô Đội 18 thuộc Phân trại số 3, Trại giam An Phước, bị cáo T lợi dụng sơ hở của cán bộ quản lý nên nảy sinh ý định bỏ trốn. T đi vào khu vực vườn chuối trèo qua hàng rào kẽm gai đi bộ đến khu vực vườn tràm thuộc Phân trại số 2, Trại giam An Phước để tìm cơ hội trốn ra ngoài. Lúc này, cán bộ quản giáo Tô Văn H1 phát hiện phạm nhân bỏ trốn nên yêu cầu cán bộ Nguyễn Hữu H nổ súng báo động, lực lượng công an trại giam truy tìm phạm nhân T đến 15 giờ cùng ngày thì phát hiện Đặng Minh T trốn tại vườn tràm cách vị trí lao động khoảng 500m.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi trốn khỏi nơi giam là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 của Bộ luật Hình sự đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động tư pháp, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động thi hành án, gây hoang mang cho những người đang chấp hành án, đang được giáo dục, cải tạo ở các trại giam. Trong thời gian chấp hành án tại Trại giam An Phước, bị cáo được học nội quy, quy chế, được giáo dục, cải tạo để sớm trở thành công dân có ích nhưng tư tưởng chưa yên tâm cải tạo mà có hành vi trốn khỏi nơi giam. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho các phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam An Phước. Bị cáo đang chấp hành hình phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2021/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã BC, tỉnh Bình Dương về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2020. Đến ngày bị cáo trốn khỏi nơi giam (ngày 26/7/2021), bị cáo đã chấp hành được 01 (một) năm 11 (mười một) ngày. Phần hình phạt mà bị cáo chưa chấp hành là 04 (bốn) năm 05 (năm) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Vì vậy, sau khi quyết định hình phạt về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”, HĐXX xem xét tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước, buộc bị cáo chấp hành một hình phạt chung theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Thời hạn chấp hành hình phạt chung được tính từ ngày bị cáo bị bắt lại (26/7/2021).

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đang chấp hành hình phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2021/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã BC, tỉnh Bình Dương về tội “Cướp tài sản” chưa được xóa án tích lại phạm tội mới. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo được coi là tái phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Minh T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp với 04 (bốn) năm 05 (năm) tháng 19 (mười chín) ngày tù chưa chấp hành theo Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2021/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã BC, tỉnh Bình Dương về tội “Cướp tài sản”, buộc bị cáo Đặng Minh T phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 11 (mười một) tháng 19 (mười chín) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2021.

3. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Đặng Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ