- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
- Tòa quyết gì? [1] Áp dụng khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự ;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2021/DS - ST Ngày: 30/3/2021 V/v: “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, ĐẮK LẮK
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quang Vinh.
- Các hội thẩm nhân dân:
1) Bà Trịnh Thị Oanh.
2) Ông Nguyễn Đình Nghịch.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Hương, thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thủy. Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30/3/2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thụ lý số 66/2020/TLST-DS ngày 30 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐST ngày 23/02/2021 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/2021/QĐST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng A.
Địa chỉ: Số 1, đường B, phường C, Quận D, thành phố G.
Đại diện theo pháp luật: Ông T.V.A. Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà C.D.A. Chức vụ: Giám đốc phòng quản lý nợ.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông N.V.N. Chức vụ: Nhân viên. (Có mặt)
Địa chỉ: Số 3 đường E, phường F, thành phố H, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Ông T. V. D, và bà N. T. T. (Ông D, bà T vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 22 tháng 7 năm 2015, bà N. T. T và ông T. V. D có lập hồ sơ xin vay vốn. Sau khi xem xét dự án, Ngân hàng A - PGD B đã ký kết hợp đồng tín dụng số KRP.HĐTD.138.220.715 cho vay số tiền 200.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng chẵn); Hợp đồng thế chấp số KRP.BĐCN.138.220715 ký ngày 22/7/2015. Đến ngày 13/8/2015 Ngân hàng A - PGD B cho ông D và bà T vay thêm số tiền 60.000.000đ tổng cộng là 260.000.000đ, đến hạn thanh toán ông D và bà T đã trả hết toàn bộ số tiền vay trên và thanh lý hợp đồng tín dụng, không thanh lý hợp đồng thế chấp mà tiếp tục ký 1 hợp đồng tín dụng mới số KRP.CN.86.260716 ngày 26/7/2016 với số tiền giải ngân là 260.000.000đ, thời hạn vay là 12 tháng, đến ngày 24/7/2017 ông D bà T lại tiếp tục trả 260.000.000đồng nhưng không thanh lý hợp đồng mà tiếp tục xin vay lại số tiền 260.000.000đ bằng 1 khế ước nhận nợ (Phụ lục hợp đồng) số KRP.CN.86.260716/02 ngày 25/07/2017, thời hạn vay là 12 tháng. Lãi suất cho vay là 10%/năm. Lãi suất vay được cố định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay. Lãi suất vay 10,4%/ năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% so với lãi suất trong hạn, thời hạn vay 12 tháng, kỳ hạn trả nợ ngày 26 tháng 7 năm 2018.
Hợp đồng thế chấp số KRP.BĐCN.138.220715, ngày 22 tháng 7 năm 2015 công chứng tại Phòng công chứng số O, tỉnh Đắk Lắk. số công chứng 3984, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện M, tỉnh Đắk Lắk. ngày 22/7/2015, số thứ tự 971, quyển số 01.
Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số KRP.BĐCN.138.220715/SĐBS-01 công chứng tại Phòng công chứng số O, tỉnh Đắk Lắk. ngày 13/8/2015, số công chứng 4407, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD để thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AN 014790 do UBND huyện M cho hộ ông T. V. K. và bà N. T.H vào ngày 19/11/2008, số vào sổ: H 00310; Thửa đất số: 277a; Tờ bản đồ số: 24; Diện tích 1036 m2 (Trong đó đất ở là 200 m2, đất trồng cây hàng năm 836 m2). Địa chỉ thửa đất: Xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 09/3/2009 thay đổi cơ sở pháp lý đứng tên ông T. V. D, sinh năm 1980 và bà N. T.T thường trú tại xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nhận tặng cho theo hợp đồng số 234/01/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 30/12/2008. Giá trị tài sản bảo đảm là: 440.000.000 đồng được hai bên thỏa thuận đảm bảo cho tất cả các hợp đồng vay tại Ngân hàng A.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông D và bà T chưa trả cho Ngân hàng được số tiền vay gốc nào. Về lãi suất: Ông T. V. D và bà N. T. T đã trả cho Ngân hàng được 24.817.534 đồng, như vậy ông D và bà T đã trả lãi suất từ ngày 26/7/2017 đến ngày 25/6/2018. Số tiền vay gốc và lãi suất còn lại, ông D và bà T không trả, Ngân hàng A - PGD B đã có văn bản yêu cầu ông D và bà T thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu cho Ngân hàng. Do vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về nợ gốc: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T. V. D bà N. T.T. trả cho Ngân Hàng 260.000.000 đồng tiền vay gốc.
- Về lãi suất:
+ Nợ lãi trong hạn của khoản vay 260.000.000 đồng: Tính từ ngày 26/6/2018 đến hết ngày 30/03/2021 là 1004 ngày, lãi suất được tính là: 260.000.000 đồng x 1004 ngày x 10,4% : 365 ngày = 74.378.520 đồng.
+ Nợ lãi quá hạn của khoản vay 260.000.000 đồng: Tính từ ngày 25/7/2018 đến hết ngày 30/3/2021 là 975 ngày, Lãi suất quá hạn bằng 15,60% lãi suất trong hạn 10.40%/năm. Như vậy lãi suất quá hạn là: 260.000.000 đồng x 975 ngày x 5,20% : 365 ngày =36.115.068 đồng.
+ Nợ lãi chậm trả tính từ ngày 25/7/2018 đến hết ngày 30/3/2021 là 975 ngày, lãi suất chậm trả tính 10% /năm. Do vậy, lãi suất chậm trả là 10.001.705 đồng.
Như vậy tổng số tiền vay gốc, tiền lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30/3/2021 Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông D , bà T phải trả cho Ngân hàng là: 380. 495.293 đồng (Ba trăm tám mươi triệu, bốn trăm chín mươi năm nghìn, hai trăm chín mươi ba đồng).
- Yêu cầu Tòa án buộc ông T. V. D và bà N. T.T phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số KRP.CN.86.260716 ngày 26/7/2016 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến ngày thực tế ông T. V. D và bà N. T.T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng A - PGD B.
Trường hợp ông T. V. D và bà N. T.T không tự nguyện thanh toán đủ số nợ gốc và lãi suất phát sinh nói trên thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu thi hành án cưỡng chế bán phát mãi toàn bộ tài sản theo hợp đồng đã thế chấp để Ngân hàng thu hồi khoản vay và lãi suất phát sinh theo hợp đồng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện M đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn và triệu tập nguyên đơn, bị đơn đến Tòa án lập bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T. V. D và bà N. T.T vắng mặt không có lý do. Tòa Án đã tiến hành thông báo tìm kiếm vắng mặt nơi cư trú đối với ông T. V. D và bà N. T.T trên báo Công lý các số 090 ngày 10/11/2020, số 091 ngày 13/11/2020 và số 092 ngày 17/11/2020 và Thông báo tìm kiếm vắng mặt nơi cư trú đối với ông T. V. D và bà N. T.T trên đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 05, ngày 06, ngày 07 tháng 11/2020, tuy nhiên ông T. V. D và bà N. T.T vẫn vắng mặt. Áp dụng khoản 3 Điều 209 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vắng mặt ông T. V. D và bà N. T.T. Căn cứ Điều 203, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông N.V.N trình bày ý kiến tranh luận: Ngân hàng A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) buộc ông T. V. D và bà N. T.T trả cho Ngân hàng 380. 939.787 đồng (Ba trăm tám mươi triệu, chín trăm ba mươi chín nghìn, bảy trăm tám mươi bảy đồng). Trong đó tiền vay gốc: 260.000.000đ, tiền lai suẫ
́t tinh đến ngày 30/3/2021 là 120.
́ 939.787 đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/3/2021.
Yêu cầu Tòa án buộc ông T. V. D và bà N. T.T phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số KRP.CN.86.260716 ngày 26/7/2016 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến ngày thực tế ông T. V. D và bà N. T.T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng A - PGD B.
Trường hợp ông T. V. D và bà N. T.T không tự nguyện thanh toán đủ số nợ gốc và lãi suất phát sinh nói trên thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu thi hành án cưỡng chế bán phát mãi toàn bộ tài sản theo hợp đồng đã thế chấp để Ngân hàng thu hồi khoản vay và lãi suất phát sinh theo hợp đồng.
Bị đơn ông T. V. D và bà N. T.T vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham dự phiên tòa phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Thành phần HĐXX và thư ký phiên tòa đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Bị đơn ông T. V. D và bà N. T.T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng vắng mặt tại buổi làm việc lập bản tự khai cũng như vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của BLTTDS 2015.
Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị HĐXX:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Áp dụng Điều 463; Khoản 1 Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Mục 3 phần I Thông Tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và Bộ tài chính; Khoản 1 điều 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Xét về hình thức: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A đề ngày 03/3/2020, TAND huyện M xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm Ngân hàng khởi kiện, bị đơn ông T. V. D và bà N. T.T đăng ký hộ khẩu thường trú thôn K, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện M thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- Bị đơn ông T. V. D và bà N. T.T đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà và Giấy báo tham gia phiên toà nhưng ông T. V. D và bà N. T.T vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông T. V. D và bà N. T.T theo quy định của pháp luật.
. Xét về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông T. V. D và bà N. T.T trả cho Ngân hàng A 260.000.000 đồng tiền vay gốc, Hội đồng xét xử nhận định:
Ngày 22 tháng 7 năm 2015, ông T. V. D và bà N. T.T có lập hồ sơ xin vay vốn. Sau khi xem xét dự án, Ngân hàng A – Phòng giao dịch B đã ký kết hợp đồng tín dụng số KRP.HĐTD.138.220.715 cho vay số tiền 200.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng chẵn). Đến ngày 13/8/2015 Ngân hàng A – Phòng giao dịch B cho ông D và bà T vay thêm số tiền 60.000.000đ, tổng cộng là 260.000.000đ, đến hạn thanh toán ông D và bà T đã trả hết toàn bộ số tiền vay và lãi suất cho Ngân hàng, Hai bên thanh lý hợp đồng tín dụng, không thanh lý hợp đồng thế chấp. Ngày 26/7/2016, ông D và bà T và Ngân hàng tiếp tục ký 1 hợp đồng tín dụng mới số KRP.CN.86.260716 với số tiền giải ngân là 260.000.000đ, thời hạn vay là 12 tháng. Đến ngày 24/7/2017, ông D và bà T trả số tiền vay gốc 260.000.000 đồng và lãi suất cho Ngân hàng, sau đó đáo hạn vay lại Ngân hàng số tiền 260.000.000đ bằng 1 khế ước nhận nợ (Phụ lục hợp đồng) số KRP.CN.86.260716/02 ngày 25/07/2017, thời hạn vay 12 tháng. Lãi suất cho vay là 10%/năm. Lãi suất vay được cố định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay. Lãi suất vay 10,4%/ năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% so với lãi suất trong hạn, thời hạn vay 12 tháng, kỳ hạn trả nợ ngày 26 tháng 7 năm 2018.
Hợp đồng tín dụng ký kết giữa ông T. V. D và bà N. T.T với Ngân hàng A – Phòng giao dịch B được bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp số KRP.BĐCN.138.220715, công chứng tại Phòng công chứng số O, tỉnh Đắk Lắk, số công chứng 3984, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện M, tỉnh Đăk Lăk ngày 22/7/2015, số thứ tự 971, quyển số 01. Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số KRP.BĐCN.138.220715/SĐBS-01 công chứng tại Phòng công chứng số O, tỉnh Đắk Lắk ngày 13/8/2015, số công chứng 4407, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD để thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AN 014790 do UBND huyện M cho hộ ông T. V. D và bà N. T.T vào ngày 19/11/2008, số vào sổ: H 00310; Thửa đất số: 277a; Tờ bản đồ số: 24; Diện tích 1.036 m2 (Trong đó đất ở là 200 m2, đất trồng cây hàng năm 836 m2). Địa chỉ thửa đất: Xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 09/3/2009 thay đổi cơ sở pháp lý đứng tên ông T. V. D và bà N. T.T thường trú tại xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nhận tặng cho theo hợp đồng số 234/01/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 30/12/2008. Căn cứ Điều 92 BLTTDS, Tòa án công nhận đó là sự thật. Việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái với quy định của pháp luật. Thời hạn trả nợ theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết là 12 tháng kể từ ngày 26/7/2017. Tuy nhiên đến ha ̣n trả nợ ngày 26/7/2018, ông D và bà T không trả tiền vay gốc 260.000.000 đồng cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng vay là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015.
Tại khoản 1 Điều 466 BLDS năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; Nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”
Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A là hoàn toàn có cơ sở. Căn cứ vào Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử buộc ông T. V. D và bà N. T.T trả cho Ngân hàng A số tiền vay gốc 260.000.000đ là đúng theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Về lãi suất: Theo hợp đồng tín dụng đã ký kết thì lãi suất các bên thỏa thuận như sau: Lãi suất cho vay là 10%/năm. Lãi suất vay được cố định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay. Lãi suất vay được điều chỉnh 03 tháng/lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% so với lãi suất trong hạn. Áp dụng mục 3 phần I, Thông Tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và Bộ tài chính để ghi nhận thoả thuận việc điều chỉnh lãi suất giữa Ngân hàng và ông D và bà T để tính lãi suất theo đúng hợp đồng đã ký kết kể từ khi giao dịch cho đến khi ông D và bà T thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi suất phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông D và bà T đã trả lãi suất cho Ngân hàng được 24.817.534 đồng, như vậy ông D và bà Tđã trả lãi suất từ ngày 26/7/2017 đến ngày 25/6/2018. Do vậy Ngân hàng yêu cầu ông D và bà T phải trả lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng tính từ ngày 26/6/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ, lãi suất được tính cụ thể như sau:
- Lãi suất trong hạn của khoản vay 260.000.000 đồng: Tính từ ngày 26/6/2018 đến hết ngày 30/03/2021 là 1004 ngày, lãi suất được tính là: 260.000.000 đồng x 1004 ngày x 10,4% : 365 ngày = 74.378.520 đồng.
- Lãi suất quá hạn của khoản vay 260.000.000 đồng: Tính từ ngày 25/7/2018 đến hết ngày 30/3/2021 là 975 ngày, lãi suất quá hạn bằng 15,60% lãi suất trong hạn 10.40%/năm. Như vậy lãi suất quá hạn là: 260.000.000 đồng x 975 ngày x 5,20% : 365 ngày = 36.115.068 đồng.
- Lãi chậm trả của khoản lãi suất quá hạn từ ngày 25/7/2018 đến hết ngày 30/3/2021 là 975 ngày, lãi suất chậm trả tính 10%/năm. Do vậy lãi suất chậm trả được tính như sau:
+ Từ ngày 25/07/2018 số tiền lãi phát sinh từ ngày 26/06/2018 đến ngày 25/07/2018 là 2.148.384đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/07/2018 đến nay ( 30/03/2021 ) là 975 ngày (2.148.384 đ x 975 ngày x 10% : 365 ngày) = 573.883đồng.
+ Từ ngày 25/08/2018 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/07/2018 đến ngày 25/08/2018 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/08/2018 đến nay ( 30/03/2021 ) là 945 ngày (2.296.548 đ x 945 ngày x 10% : 365 ngày) = 594.585đồng.
+ Từ ngày 25/09/2018 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/08/2018 đến ngày 25/09/2018 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/09/2018 đến nay ( 30/03/2021 ) là 917 ngày (2.296.548 đ x 917 ngày x 10% : 365 ngày) = 576.968đồng.
+ Từ ngày 25/10/2018 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/09/2018 đến ngày 25/10/2018 là 2.222.466đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/10/2018 đến nay ( 30/03/2021 ) là 887 ngày (2.222.466 đ x 887 ngày x 10% : 365 ngày) = 540.090đồng.
+ Từ ngày 25/11/2018 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/10/2018 đến ngày 25/11/2018 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/11/2018 đến nay ( 30/03/2021 ) là 856 ngày (2.296.548 đ x 856 ngày x 10% : 365 ngày) = 538,588đồng.
+ Từ ngày 25/12/2018 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/11/2018 đến ngày 25/12/2018 là 2.222.466 đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/12/2018 đến nay ( 30/03/2021 ) là 826 ngày (2.222.466 đ x 826 ngày x 10% : 365 ngày) = 502.947đồng.
+ Từ ngày 25/01/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/12/2018 đến ngày 25/01/2019 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/01/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 795 ngày (2.296.548 đ x 795 ngày x 10% : 365 ngày) = 500.207đồng.
+ Từ ngày 25/02/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/01/2019 đến ngày 25/02/2019 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/02/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 764 ngày (2.296.548 đ x 764 ngày x 10% : 365 ngày) = 480.702đồng.
+ Từ ngày 25/03/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/02/2019 đến ngày 25/3/2019 là 2.074.301 đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/3/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 736 ngày (2.074.301 đ x 736 ngày x 10% : 365 ngày) = 418.270đồng.
+ Từ ngày 25/4/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/3/2019 đến ngày 25/4/2019 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/4/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 705 ngày (2.296.548 đ x 705 ngày x 10% : 365 ngày) = 443.580đồng.
+ Từ ngày 25/5/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/04/2019 đến ngày 25/5/2019 là 2.222.466đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/5/2018 đến nay ( 30/03/2021 ) là 675 ngày (22.222.466đ x 675 ngày x 10% : 365 ngày) = 411.004đồng.
+ Từ ngày 25/6/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/5/2019 đến ngày 25/6/2019 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/6/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 644 ngày (2.296.548 đ x 644 ngày x 10% : 365 ngày) = 405.199 đồng.
+ Từ ngày 25/07/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2019 đến ngày 25/7/2019 là 2.222.466đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/7/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 614 ngày (2.222.466đ x 614 ngày x 10% : 365 ngày) = 373.861đồng.
+ Từ ngày 25/08/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/07/2019 đến ngày 25/08/2019 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/08/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 583 ngày (2.296.548 đ x 583 ngày x 10% : 365 ngày) = 366.818đồng.
+ Từ ngày 25/9/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/08/2019 đến ngày 25/9/2019 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/09/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 552 ngày (2.296.548 đ x 552 ngày x 10% : 365 ngày) = 347.314đồng.
+ Từ ngày 25/10/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/9/2019 đến ngày 25/10/2019 là 2.222.466đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/10/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 522 ngày (2.222.466đ đ x 522 ngày x 10% : 365 ngày) = 317.843đồng.
+ Từ ngày 25/11/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/10/2019 đến ngày 25/11/2019 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/11/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 491 ngày (2.296.548 đ x 491 ngày x 10% : 365 ngày) = 308.933đồng.
+ Từ ngày 25/12/2019 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/11/2019 đến ngày 25/12/2019 là 2.222.466đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/12/2019 đến nay ( 30/03/2021 ) là 461 ngày (2.222.466đ x 461 ngày x 10% : 365 ngày) = 280.700đồng.
+ Từ ngày 25/01/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/12/2019 đến ngày 25/01/2020 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/01/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 430 ngày (2.296.548 đ x 430 ngày x 10% : 365 ngày) = 270.552đồng.
+ Từ ngày 25/02/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/01/2020 đến ngày 25/02/2020 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/02/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 399 ngày (2.296.548 đ x 399 ngày x 10% : 365 ngày) = 251.047đồng.
+ Từ ngày 25/3/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/02/2020 đến ngày 25/3/2020 là 2.148.384đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/3/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 370 ngày (2.148.384đ x 370 ngày x 10% : 365 ngày) = 217.781đồng.
+ Từ ngày 25/4/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/3/2020 đến ngày 25/3/2020 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/3/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 339 ngày (2.296.548 đ x 339 ngày x 10% : 365 ngày) = 213.296đồng.
+ Từ ngày 25/5/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/4/2020 đến ngày 25/5/2020 là 2 là 2.222.466đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/5/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 309 ngày (2.222.466đ x 309 ngày x 10% : 365 ngày) = 188.148đồng.
+ Từ ngày 25/6/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/5/2020 đến ngày 25/6/2020 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/6/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 278 ngày (2.296.548 đ x 278 ngày x 10% : 365 ngày) = 174.915đồng.
+ Từ ngày 25/7/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2020 đến ngày 25/7/2020 là 2.222.466đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/7/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 248 ngày (2.222.466đ x 248 ngày x 10% : 365 ngày) = 151.006đồng.
+ Từ ngày 25/8/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/7/2020 đến ngày 25/08/2020 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/08/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 217 ngày (2.296.548 đ x 217 ngày x 10% : 365 ngày) = 136.534đồng.
+ Từ ngày 25/9/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/8/2020 đến ngày 25/9/2020 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/9/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 186 ngày (2.296.548 đ x 186 ngày x 10% : 365 ngày) = 117.030đồng.
+ Từ ngày 25/10/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/9/2020 đến ngày 25/10/2020 là 2.222.466đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/10/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 156 ngày (2.222.466đ x 156 ngày x 10% : 365 ngày) = 94.988đồng.
+ Từ ngày 25/11/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/10/2020 đến ngày 25/11/2020 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/11/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 125 ngày (2.296.548 đ x 125 ngày x 10% : 365 ngày) = 78.649đồng.
+ Từ ngày 25/12/2020 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/11/2020 đến ngày 25/12/2020 là 2.222.466đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/12/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 95 ngày (2.222.466đ x 95 ngày x 10% : 365 ngày) = 57.845đồng.
+ Từ ngày 25/01/2021 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/12/2020 đến ngày 25/01/2020 là 2.296.548đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/01/2020 đến nay ( 30/03/2021 ) là 64 ngày (2.296.548 đ x 64 ngày x 10% : 365 ngày) = 40.268đồng.
+ Từ ngày 25/02/2021 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/01/2021 đến ngày 25/02/2021 là 2.296.549đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/02/2021 đến nay ( 30/03/2021 ) là 33 ngày (2.296.549 đ x 33 ngày x 10% : 365 ngày) = 20.763đồng.
+ Từ ngày 25/03/2021 số tiền lãi phát sinh từ ngày 25/02/2021 đến ngày 25/3/2021 là 2.96.550 đ nên số tiền lãi này phải chịu khoản tiền phạt 10% kể từ 25/3/2021 đến nay ( 30/03/2021 ) là 5 ngày (2.296.549 đ x 5 ngày x 10% : 365 ngày) = 3.146đồng.
Tổng lãi suất chậm trả tính từ ngày 25/7/2018 đến hết ngày 30/3/2021 là 975 ngày là 10.001.705 đồng.
Như vậy, tổng số tiền vay gốc và lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi suất châm trả HĐXX buộc ông D và bà Tcó nghĩa vụ trả cho Ngân hàng A là 380. 495.293 đồng (Ba trăm tám mươi triệu, ba trăm sáu mươi mốt nghìn, tám trăm hai mươi hai đồng).
Kể từ ngày 31/3/2021, ông D và bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Về Tài sản thế chấp: Khi vay tiền Ngân hàng, ông D và bà T đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AN 014790 (Bản chính) do UBND huyện M cho hộ ông T. V. K và bà N. T. H vào ngày 19/11/2008, số vào sổ: H 00310; Thửa đất số: 277a; Tờ bản đồ số: 24; Diện tích 1.036 m2 (Trong đó đất ở là 200 m2, đất trồng cây hàng năm 836 m2). Địa chỉ thửa đất: Xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 09/3/2009 thay đổi cơ sở pháp lý đứng tên ông T. V. D, sinh năm 1980 và bà N. T.T thường trú tại Xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nhận tặng cho theo hợp đồng số 234/01/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 30/12/2008. Theo quy định tại Điều 3 (Nghĩa vụ được đảm bảo) của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số HRP.BĐCN.138220715 ngày 23/7/2015, hai bên thỏa thuận, tài sản thế chấp trên để đảm bảo cho tất cả các khoản vay mà ông D bà T vay tại Ngân hàng A – Phòng giao dịch B. Xét thấy việc thế chấp trên của các bên đương sự là hợp pháp, các hợp đồng thế chấp đều được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền đúng theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 292 BLDS 2015.
Áp dụng Điều 293 BLDS 2015 và khoản 1 Điều 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm tuyên: Trường hợp vợ chồng ông T. V. D và bà N. T.T không tự nguyện thanh toán đủ số nợ gốc và lãi suất phát sinh nói trên thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu thi hành án cưỡng chế bán phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán nợ.
Sau khi ông T. V. D và bà N. T.T thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A có nghĩa vụ trả lại tài sản , Giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho ông D và bà T theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú:
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, ông T. V. D và bà N. T.T không đến Tòa án để làm việc, tại biên bản xác minh ngày 16/9/2020 (bút lục số 68, 68a) Công an xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk cung cấp: ông T. V. D và bà N. T.T đã bỏ đi khỏi địa phương vào tháng 10 năm 2018, từ đó đến nay, ông D và bà T ở đâu, chính quyền địa phương xã L không biết. Để có cơ sở pháp lý giải quyết vụ án, Ngân hàng A đã có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm vắng mặt nơi cư trú đối với ông D và bà T trên phương tiện thông tin đại chúng. Ngày 30/10/2020, Tòa án nhân dân huyện M đã ra Thông báo đăng tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông T. V. D và bà N. T.T trên báo Công lý, 03 số liên tiếp đó là số báo 090 ngày 10/11/2020, số 091 ngày 13/11/2020 và số 092 ngày 17/11/2020 và Thông báo tìm kiếm vắng mặt nới cư trú đối với ông T. V. D và bà N. T.T trên đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 05, ngày 06, ngày 07 tháng 11/2020.
Ngày 29/10/2020 (bút lục số 71) Ngân hàng A đã nộp số tiền 4.000.000 đồng. Tòa án đã chi phí đăng báo và thông báo trên đài tiếng nói Việt Nam hết 3.025.000 đồng (Các bút lục số 74, 85). Số tiền còn lại 975.000 đồng Tòa án đã trả lại cho Ngân hàng (Bút lục số 112a). Theo quy định tại khoản 2 Điều 385 BLTTDS quy định: “Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu”. Căn cứ điều luật viện dẫn nêu trên, HĐXX tuyên buộc Ngân hàng phải chịu 3.025.000 đồng tiền chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Số tiền này đã được Ngân hàng nộp và chi trả xong.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH- 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án, buộc ông T. V. D và bà N. T.T phải chịu 19.024.764 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Theo mức tính: 380. 495.293 đồng x 5% = 19.024.764 đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng A số tiền 8.120.469 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0007298, ngày 30/3/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự ;
- Áp dụng Điều 463; Khoản 1 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;
- Mục 3 phần I Thông Tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và Bộ tài chính; Khoản 1 điều 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
[2] Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A.
- Buộc ông T. V. D và bà N. T.T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng A số tiền 380. 495.293 đồng (Ba trăm tám mươi triệu, bốn trăm chín mươi năm nghìn, hai trăm chín mươi ba đồng). Trong đó tiền vay gốc: 260.000.000đ, tiền lai suẫ
́t tinh
́ đến ngày 30/3/2021 là 120.495.293 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 31/3/2021, ông T. V. D và bà N. T.T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Sau khi ông T. V. D và bà N. T.T thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất (Bản chính) và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AN - 014790 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho hộ ông T. V. K. và bà N. T.H ngày 19/11/2008, số vào sổ: H 00310; Thửa đất số: 277a; Tờ bản đồ số: 24; Diện tích 1036 m2 (Trong đó: đất ở là 200 m2, đất trồng cây hàng năm 836 m2). Địa chỉ thửa đất: xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 09/3/2009 thay đổi cơ sở pháp lý đứng tên ông T. V. D và bà N. T.T thường trú tại xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nhận tặng cho theo hợp đồng số 234/01/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 30/12/2008.
Trường hợp ông T. V. D và bà N. T.T không tự nguyện thanh toán đủ số nợ gốc và lãi suất phát suất phát sinh nói trên thì Ngân hàng Ngân hàng A có quyền yêu cầu thi hành án cưỡng chế bán phát mãi toàn bộ tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AN - 014790 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho hộ ông T. V. K và bà N. T.H ngày 19/11/2008, số vào sổ: H 00310; Thửa đất số: 277a; Tờ bản đồ số: 24; Diện tích 1036 m2 (Trong đó: đất ở là 200 m2, đất trồng cây hàng năm 836 m2). Địa chỉ thửa đất: Xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 09/3/2009 thay đổi cơ sở pháp lý đứng tên ông T. V. D và bà N. T.T thường trú tại xã L, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nhận tặng cho theo hợp đồng số 234/01/TP/CC-SCT/HĐGD ngày 30/12/2008 đã thế chấp cho Ngân hàng để thanh toán nợ trên phạm vi nghĩa vụ bảo đảm 260.000.000 đồng tiền vay gốc và các khoản tiền lãi suất phát sinh theo hợp đồng vay.
[3] Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú: Buộc Ngân hàng A phải chịu số tiền 3.025.000 đồng chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Số tiền này Ngân hàng A đã nộp và Tòa án đã chi trả xong nên không đề cập giải quyết.
[4] Về án phí: Buộc ông T. V. D và bà N. T.T phải chịu 19.024.764 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng A số tiền 8.120.469 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0007298, ngày 30/3/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn ông T. V. D và bà N. T.T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - VKSND Tỉnh Đắk Lắk; - TAND Tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Huyện M; - Chi cục THADS Huyện M; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Quang Vinh |