vanban.org

Bản án 80/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 23/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu đen số Imiel 810083600027514 của bị cáo Nguyễn Hoàng N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng N - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2020/HS-ST
Ngày: 23/12/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Đình Nhung.

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thế Sự - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2020 tại Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2020/TLST-HS, ngày 17 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng N (Ch), sinh ngày 04/3/2002 tại Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp Trảng S, xã Đôn Th, thị xã Tr B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Nguyễn Văn Kh và bà Lê Thị R; vợ, con: Không có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giữ ngày 18/8/2020, tạm giam ngày 27/8/2020 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Anh Đinh Ngọc M, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Thôn Minh T, xã Minh , huyện Mộc Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Mai Quốc Tr, sinh năm: 1983. Nơi cư trú: Ấp 4, xã BĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

2/ Bà Lê Thị R, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Ấp Trảng S, xã Đôn Th, thị xã Tr B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

Người chứng kiến:

1. Ông Võ Nhựt Ch, sinh năm: 1979. Nơi cư trú: Ấp Sóc L, xã Đôn Th, thị xã Tr B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

2. Ông Trần Đức L, sinh năm: 1987. Nơi cư trú: Ấp Sóc L, xã Đôn Th, thị xã Tr B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 07/8/2020, Nguyễn Hoàng N và Nguyễn Thị Kim Q thuê anh Đinh Ngọc M chạy xe môtô biển số 59G2-029.34 chở N và Q từ bến xe An Sương, Thành phố Hồ Chí Minh đến Khu công nghiệp Tây Bắc thuộc huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh với tiền công 200.000 đồng.

Trên đường đi, Q và N nhắn tin điện thoại di động cho nhau có nội dung bàn bạc với nhau tìm nơi vắng người để cướp điện thoại di động của anh Mỹ.

Khi đến huyện Củ Chi, N và Q tiếp tục kêu anh Mỹ chở đến khu vực thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh rồi tiếp tục đi về hướng xã Đôn Thuận, thị xã Trảng Bàng.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thì đến khu vực rừng lịch sử Bời Lời thuộc Ấp Sóc L, xã Đôn Th, thị xã Tr B, tỉnh Tây Ninh, N giả vờ yêu cầu anh Mỹ dừng xe lại để đi vệ sinh nhưng anh Mỹ không đồng ý. Lúc này N lấy 01 cây dao bấm bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 20cm trong túi quần ra chỉa vào hông bên phải anh Mỹ tiếp tục yêu cầu dừng xe; do hoảng sợ nên anh Mỹ dừng xe lại, lấy chìa khóa xe cầm trên tay và xuống xe, N cầm dao đe dọa và lấy 01 điện thoại di động hiệu Realme-5i, màu xanh trong túi quần của anh Mỹ. Lợi dụng lúc N, Q không để ý nên anh Mỹ bỏ chạy và tri hô cướp. Lúc này, N và Q sợ bị phát hiện nên bỏ chạy vào hướng rừng Bời Lời, đến khu vực kênh Đông thì N vứt bỏ cây dao xuống kênh. Q và N đem bán điện thoại tại cửa hàng điện thoại di động “Trung Tín” thuộc ấp 2, xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh do anh Mai Quốc Tr làm chủ được 1.700.000 đồng, cùng nhau tiêu xài hết.

Đến ngày 18/8/2020, N đến Cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên; riêng Q hiện đã bỏ trốn.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29/KLĐG ngày 18/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng, kết luận: 01 điện thoại di động Realme 5i màu xanh có giá trị 2.952.000 đồng.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bản kê kèm theo.

Trong quá trình điều tra, N đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đã tác động mẹ ruột là bà Lê Thị R bồi thường thiệt hại xong.

Qua xác minh, Nguyễn Hoàng N không có tài sản.

Qua làm việc, anh Đinh Ngọc M đã nhận lại 01 điện thoại di động Realme 5i màu xanh nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bà Lê Thị R là mẹ của N đã bồi thường số tiền 1.700.000 đồng cho anh Mai Quốc Tr và không yêu cầu N hoàn trả số tiền trên.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng N thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Tại Bản cáo trạng số 88/CT-VKSTrB, ngày 16/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 07 năm đến 08 năm tù.

Biện pháp tư pháp: Ghi nhận bị hại Đinh Ngọc M đã nhận lại 01 điện thoại di động Realme 5i màu xanh, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Lê Thị R là mẹ của Nguyễn Hoàng N đã bồi thường số tiền 1.700.000 đồng cho anh Mai Quốc Tr, không yêu cầu Nguyễn Hoàng N hoàn trả số tiền trên. Anh Mai Quốc Tr đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu giải quyết. Không đặt ra giải quyết.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N, do bị cáo không có tài sản.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Hoàng N nói lời nói sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Vào lúc 15 giờ ngày 07/8/2020, tại khu vực rừng lịch sử Bời Lời thuộc Ấp Sóc L, xã Đôn Th, thị xã Tr B, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Hoàng N đã dùng dao là hung khí nguy hiểm, khống chế, đe dọa anh Đinh Ngọc M và chiếm đoạt 01 điện thoại di động Realme 5i màu xanh của anh Mỹ đem bán cho anh Mai Quốc Tr (bút lục số 01-02; 05-06; 35-36; 55-59; 64-68; 99-102;119-121; 166-167).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29/KLĐG ngày 18/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng, kết luận: 01 điện thoại di động Realme 5i màu xanh có giá trị 2.952.000 đồng.

Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Cướp tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cụ thể:

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả, bị cáo đầu thú. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Thấy rằng: Bị cáo N không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu đen số Imiel 810083600027514 của bị cáo N có liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước là phù hợp với Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị hại Đinh Ngọc M đã nhận lại 01 điện thoại di động Realme 5i màu xanh, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Lê Thị R là mẹ của N đã bồi thường số tiền 1.700.000 đồng cho anh Mai Quốc Tr, không yêu cầu N hoàn trả số tiền trên. Anh Mai Quốc Tr đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu giải quyết. Không đặt ra giải quyết.

Tất cả vật chứng trên do cơ quan thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng đang quản lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N (Ch) 07 (bảy) năm tù, về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/8/2020.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N.

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.

- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu đen số Imiel 810083600027514 của bị cáo Nguyễn Hoàng N.

- Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị hại Đinh Ngọc M đã nhận lại 01 điện thoại di động Realme 5i màu xanh, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Lê Thị R là mẹ của N đã bồi thường số tiền 1.700.000 đồng cho anh Mai Quốc Tr, không yêu cầu N hoàn trả số tiền trên. Anh Mai Quốc Tr đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu giải quyết. Không đặt ra giải quyết.

Tất cả vật chứng trên do cơ quan thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng đang quản lý.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo Nguyễn Hoàng N được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ