- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Long - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 80/2020/HS - ST Ngày 26 - 8 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Tiện.
2. Ông Tòng Văn Toán.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy- Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:
Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2020/HSST ngày 13 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2020/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Lò Văn L - Sinh năm 1967; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản P, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 4/10; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lò Văn B và bà Quàng Thị M; Có vợ là Cà Thị S và có 03 con chung (con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1993); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ 21/5/2020 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 50’ ngày 20/5/2020 tổ công tác Công an xã N, huyện S làm nhiệm vụ tại khu vực Bản P, xã N phát hiện bắt quả tang Lò Văn L đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại túi áo ngực bên trái đang mặc của L 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 19 viên nén màu hồng và 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng (L khai nhận là hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô BKS 26B2- 282.22, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M10.
Ngày 21/5/2020 Cơ quan CSĐT công an huyện Sông Mã tiến hành bóc mở niêm, xác định khối lượng vật chứng, trích mẫu giám định, kết quả:
- 19 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 1,78 gam, trích 05 viên có tổng khối lượng 0,43 gam để giám định ký hiệu L1. Vật chứng còn lại 14 viên có tổng khối lượng 1,35 gam, ký hiệu L2.
- Số chất bột liên kết màu trắng có tổng khối lượng 1,74 gam, đã trích 0,04 gam để giám định, ký hiệu L3. Vật chứng còn lại 1,7 gam, ký hiệu L4.
Tại bản kết luận giám định số 802 ngày 26/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
-“Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,43 gam.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu L2 là ma túy; Loại Heroine; khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,04 gam.
- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 1,78 gam loại Methamphetamine và 1,74 gam loại Heroine.
Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn L khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 20/5/2020 L đi bộ từ nhà lên bản M, xã N mục đích để tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Khi lên đến cuối bản M, xã N thì L gặp 1 người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên tuổi, địa chỉ đang đi bộ ngoài đường, L hỏi người đàn ông này để mua ma tuý với số tiền là 1.500.000VNĐ, người này nhận tiền và lấy từ trong túi khoác bằng vải dứa ra đưa cho L 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 20 viên nén màu hồng và 01 gói nilon màu xanh khác có chứa Heroine. L lấy ngay 01 viên hồng phiến ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số ma tuý còn lại L cất vào túi áo đang mặc và điều khiển xe ra về, khi đi đến địa phận bản P, xã N thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKSSM ngày 11 tháng 8 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt Lò Văn L từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Buộc bị cáo chịu án phí hình sự; Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật và tuyên quyền kháng cáo.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 20 giờ 50 phút, ngày 20/5/2020, bắt quả tang Lò Văn L có hành vi cất dấu 19 viên nén màu hồng và 01 gói chất bột liên kết màu trắng, L khai nhận là hồng phiến và Heroine.
- Vật chứng bị thu giữ gồm 19 viên nén màu hồng, 01 gói chất bột liên kết màu trắng; Kết luận giám định số 802 ngày 26/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "… là ma túy; Loại Methamphetamine;… Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 1,78 gam loại Methamphetamine và 1,74 gam loại Heroine”.
- Lời khai bị cáo về việc vì đã sử dụng ma tuý từ năm 2012 nên tối ngày 20/5/2020 có lên bản M, xã N mua ma túy về mục đích để sử dụng, sau khi mua được đang trên đường trở về thì bị phát hiện bắt quả tang.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/5/2020 bị cáo đã có hành vi tàng trữ 1,78 gam methamphetamine và 1,74 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn không có tài sản gì có giá trị, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Về người đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai chỉ gặp ngoài đường, không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ mở rộng điều tra vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe 01 xe mô tô BKS 26B2- 282.22 xác định là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng bị cáo, khi bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy vợ bị cáo không biết, CQCSĐT đã trả lại xe cho vợ bị cáo là đúng quy định nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Đối với phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, cùng các mảnh nilon và số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định là những vật không có giá trị sử dụng và vật nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn L 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày 21/5/2020.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 1,35 gam Methamphetamine và 1,7 gam Heroine, cùng 02 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở được gói trong 01 phong bì thư đã niêm phong, dán kín đúng quy định của pháp luật, mặt sau phong bì trên phần giấy dán niêm phong có mã số 027486 cùng 02 hình dấu đỏ của CQCSĐT công an huyện Sông Mã.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M10 màu xanh - đen, có số IMEI1: 358470100841587, IMEI2: 358471100841585, điện thoại đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2020 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 26/8/2020./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo ; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |