vanban.org

Bản án 80/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

I. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam (ngày 04/8/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phi H, điều 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2020/HS-ST
Ngày: 11-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Đồng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Phi;

2. Ông Hồ Đắc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Phi H (tên gọi khác: L), sinh năm 1995, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp H, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978 (đã chết); bị cáo có 01 người em sinh năm 2000; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 04/8/2020 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Hoàng L, sinh năm 2002; HKTT: Ấp Đ, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 08/12/2020).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1982; HKTT: Ấp Đ, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phi H là đối tượng nghiện ma túy, H sử dụng ma túy từ năm 2017. Từ ngày 15/9/2017 đến ngày 16/12/2017, H bị UBND xã T, thị xã C, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương. Sau khi hết thời hạn cai nghiện trở về địa phương, H tiếp tục tái nghiện.

Khoảng 08 giờ ngày 04/8/2020, H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 61H1-553.26, số khung: RLCUE3720 – KY015474, số máy: E32VE-062377 do mượn của anh Lê Hoàng L, đi từ nhà của H tại ấp H, xã A, huyện D đến khu vực Sân bay Dầu Tiếng cũ thuộc khu phố B, thị trấn T mua ma túy dạng ma túy đá (Methamphetamine) của người đàn ông tên C (không rõ nhân thân, lai lịch), đựng trong một túi nylon trong suốt, miệng kéo dính, kích thước 04 cm x 04 cm với giá tiền 200.000 đồng. H bỏ gói ma túy đá đã mua vào ví (bóp), giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô trở về nhà. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày 04/8/2020, khi tới đoạn đường thuộc ấp P, xã A, huyện D, thì H bị Công an xã A kiểm tra, tạm giữ người và vật chứng vụ án.

Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ vật chứng gồm một túi nylon trong suốt, miệng kéo dính, kích thước 04 cm x 04 cm, bên trong túi nylon chứa tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh (một đầu hàn kín, 01 đầu hở); xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 61H1-553.26, số khung: RLCUE3720 – KY015474, số máy: E32VE-062377 và 01 cái ví (bóp) màu đen bên ngoài có chữ BALLY (đã qua sử dụng).

Quá trình điều tra, H khai nhận mua ma túy của đối tượng tên C được 04 lần để sử dụng, trong thời gian (không nhớ ngày) vào đầu tháng 7/2020; vào giữa tháng 7/2020; vào cuối tháng 7/2020 và vào ngày 04/8/2020. Mỗi lần H mua với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Đoạn ống hút nhựa màu xanh là của H, H để sẵn trong ví, dùng ống hút để hít ma túy.

Ngày 05/8/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D ra Quyết định trưng cầu giám định số 140/QĐ gửi Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương để giám định một gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng và đoạn ống hút nhựa màu xanh được niêm phong trong bì thư dán kín. Bản kết luận giám định số 503/MT- PC09, ngày 12/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1524 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định:

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 61H1-553.26, số khung: RLCUE3720 – KY015474, số máy: E32VE-062377 là của anh Lê Hoàng L, sinh năm 2002 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 04/8/2020, H mượn xe mô tô trên của anh L để đi mua sữa cho con, anh L không biết H mượn xe đi mua ma túy. Vì vậy, ngày 05/10/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 40/QĐ và trả lại xe mô tô thu giữ cho chủ sở hữu anh L. Ngày 08/10/2020, anh L đã nhận lại xe mô tô.

- 01 ví (bóp) màu đen bên ngoài có chữ BALLY (đã qua sử dụng), xác định là tài sản cá nhân của H, H không sử dụng vào việc phạm tội.

- 01 bì thư được niêm phong ghi số 503/PC09 có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Thành L (Phó Trưởng Công an xã A), hình dấu đỏ của Công an xã A, giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Phi H (người chứng kiến), chữ ký của ông Đặng Hải S (Cán bộ giao mẫu), chữ ký Trần Hoàng H (trợ lý/giám định viên) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa mẫu vật sau giám định: 0,0948 gam; hiện được chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện D quản lý.

Tại Cáo trạng số 83/CT-VKSDT-HS ngày 09/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Phi H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Phi H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:

- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H từ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù đến từ 02 (hai) năm tù.

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 61H1-553.26, số khung: RLCUE3720 – KY015474, số máy: E32VE-062377 là của anh Lê Hoàng L đứng tên chủ sở hữu. Ngày 05/10/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 40/QĐ trả lại xe mô tô thu giữ cho chủ sở hữu Lê Hoàng L và ngày 08/10/2020, anh L đã nhận lại xe mô tô là phù hợp.

+ Đối với 01 ví màu đen bên ngoài có chữ BALLY (đã qua sử dụng), xác định là tài sản cá nhân của H, H không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại.

+ 01 bì thư được niêm phong ghi số 503/PC09 có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Thành L (Phó Trưởng Công an xã A), hình dấu đỏ của Công an xã A, giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Phi H (người chứng kiến), chữ ký của ông Đặng Hải S (Cán bộ giao mẫu), chữ ký Trần Hoàng H (trợ lý/giám định viên) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa mẫu vật sau giám định: 0,0948 gam, đây là tang vật của vụ án và là vật cấm sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu; bị cáo H tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã gây ra và xin Hội đồng xét xử mức án nh nhất để bị cáo sớm có điều kiện cải tạo làm người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Lời nói sau cùng: Bị cáo H xin giảm nh hình phạt để sớm về lo cho gia đình và em gái.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh L, quá trình điều tra đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường hay yêu cầu gì đối với tài sản. Anh Lam có văn bản yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng và Điều tra viên, Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ có trong hồ sơ đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/8/2020, tại đoạn đường nhựa thuộc ấp P, xã A, huyện D, Công an xã A bắt quả tang bị cáo H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61H1-553.26 có tàng trữ trái phép chất ma túy đựng trong ví da màu đen bỏ trong túi quần và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh dùng để sử dụng chất ma túy. Tại Bản kết luận giám định số 503/MT- PC09, ngày 12/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1524 gam, loại Methamphetamine. Lời khai nhận tội của bị cáo H tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo H được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về tính tổng khối lượng chất ma túy thì hành vi của bị cáo H đủ căn cứ để Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố theo Cáo trạng số 83/CTr-VKSDT-HS ngày 09/11/2020 và việc truy tố là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo H đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đã làm cho nhiều người phải nghiện thứ chất độc hại mà Nhà nước cấm tàng trữ sử dụng là một trong những con đường dẫn đến căn bệnh HIV, AIDS và kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực để nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật thế nhưng bị cáo đã bất chấp hậu quả, quyết tâm thực hiện tội phạm, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi tội phạm xảy ra.

Bị cáo H là người nghiện ma túy, là người hiểu rõ nhất về tác hại của chất ma túy, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm, mua ma túy về tàng trữ trong người để sử dụng. Bị cáo từng bị UBND xã T, thị xã B xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào năm 2017, mặc dù không còn tiền sự nhưng Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.

Xét hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo H gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện D cũng như của cả nước nói chung; đồng thời để bị cáo H thấy được sự nghiêm minh của pháp luật nên cần phải xử lý thật nghiêm bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm có điều kiện giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt sau này cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, điều khoản truy tố là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là nặng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi mà bị cáo đã thực hiện cũng như điều kiện hoàn cảnh của bị cáo (có con nhỏ mới sinh chưa đăng ký khai sinh) nên Hội đồng xét xử giảm nh một phần so với mức đề nghị nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, đã thu giữ vật chứng và cần xử lý như sau:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 61H1-553.26, số khung: RLCUE3720 – KY015474, số máy: E32VE-062377 là của anh Lê Hoàng L đứng tên chủ sở hữu. Ngày 05/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 40/QĐ trả lại xe mô tô thu giữ cho chủ sở hữu anh Lê Hoàng L và ngày 08/10/2020, anh L đã nhận lại xe mô tô là phù hợp.

Đối với 01 ví màu đen bên ngoài có chữ BALLY (đã qua sử dụng), xác định là tài sản cá nhân của H, H không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại.

01 bìa thư được niêm phong ghi số 503/PC09 (là mẫu vật gửi giám định theo QĐTC giám định số 140/QĐ ngày 05/8/2020 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng) có chữ ký, hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Phi H (người chứng kiến), chữ ký của Đặng Hải S (Cán bộ giao mẫu), chữ ký Trần Hoàng H (trợ lý/giám định viên) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS – Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa mẫu vật sau giám định: 0,0948 gam, đây là tang vật của vụ án và là vật cấm sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 46; Điều 47; Điều 48; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

I. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam (ngày 04/8/2020).

II. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

1. Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số 503/PC09 có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Thành L, hình dấu đỏ của Công an xã A, giấy niêm phong có chữ ký của Nguyễn Phi H (người chứng kiến), chữ ký của ông Đặng Hải S (Cán bộ giao mẫu), chữ ký Trần Hoàng H (trợ lý/giám định viên) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa mẫu vật sau giám định: 0,0948 gam.

2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi H 01 ví màu đen bên ngoài có chữ BALLY (đã qua sử dụng).

(Vật chứng nêu trên được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D).

III. Án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Phi H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

IV. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 11/12/2020).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Cỡ chữ