vanban.org

Bản án 80/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nH: Chấp nhận cho chị Nguyễn Diễm M được ly hôn với anh Ngô Minh H.

Về con chung: Giao con là Ngô Nguyễn Gia H sinh ngày 23/4/2019 cho chị Nguyễn Diễm M tiếp tục nuôi. Anh Ngô Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Diễm M - Ngô Minh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nH: Chấp nhận cho chị Nguyễn Diễm M được ly hôn với anh Ngô Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa
TÒA ÁN NH DẤN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 20-5-2020
“V/v tranh chấp ly hôn”

NH DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nhủ Khuyên

Các vị Hội thẩm nH dân:

Ông Nguyễn Văn Sol

Ông Nguyễn Quốc Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm là Thư ký Tòa án nH dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 20 tháng 5 năm 2020 tại Tòa án nH dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nH và gia đình thụ lý số 35/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2020. Về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Diễm M - Sinh năm 1997 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp P Th, xã T P, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Ngô Minh H - Sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp T H, xã Th P, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo chị Nguyễn Diễm M trình bày:

- Về hôn nH: Chị M và anh H kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th Ph, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Sau khi kết hôn, chị M và anh H sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nH là do chị M và anh H bất đồng quan điểm sống dẫn đến không hòa thuận, anh chị thường hay cãi nhau. Sau khi xảy ra mâu thuẫn gia đình hai bên nhiều lần hàn gắn nhưng chị M và anh H không thể chung sống hạnh phúc. Chị M và anh H đã sống ly tH với nhau. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Diễm M vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Ngô Minh H.

- Về con chung: Chị Nguyễn Diễm M xác định chị và anh Ngô Minh H có 01 con chung tên Ngô Nguyễn Gia H sinh ngày 23/4/2019 hiện đang sống chung với chị M. Chị M yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Diễm M xác định trong thời gian chung sống chị và anh Ngô Minh H không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Nguyễn Diễm M xác định trong thời gian chị và anh Ngô Minh H chung sống không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Ngô Minh H, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Tòa án cũng đã triệu tập anh H để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng anh H đều vắng mặt không lý do.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Tranh chấp giữa chị Nguyễn Diễm M và anh Ngô Minh H là tranh chấp Hôn nH và gia đình về việc xin ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H có địa chỉ tại ấp Tân Hòa, xã Th Ph, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nH dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Veà hoân nhaân: Chị M và anh H kết hôn vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th Ph, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nH của chị M và anh H là hôn nH hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị M và anh H thực sự có xảy ra trong thời gian dài không thể hàn gắn được, chị M và anh H đã sống ly tH với nhau. Tại phiên tòa, chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh H. Anh H không tham gia phiên tòa và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của chị M.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nH và gia đình thì chị M có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị M đã được Tòa án nH dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nH và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nH dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tiến hành hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nH và gia đình. Tuy nhiên, anh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án nH dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nH dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh H hợp lệ đến lần thứ hai với nội dung triệu tập anh H đến Tòa án nH dân huyện Cái Nước để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do. Do đó Tòa án nH dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh H. Anh H không đến Tòa án để hòa giải và tham dự phiên tòa, cho thấy anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị M đối với anh H là phù hợp với quy định của pháp luật về hôn nH và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Xét thấy, tính đến ngày xét xử con của anh chị chưa đủ 36 tháng tuổi, hiện đang sống chung với chị M đã ổn định về đời sống và tâm lý, chị M yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, anh H không có ý kiến. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị M là phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị M không yêu cầu nên không đặt ra xem xét

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Diễm M xác định chị và anh Ngô Minh H không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Diễm M xác định trong thời gian chung sống chị và anh Ngô Minh H không có nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với anh H vắng mặt tại phiên tòa, anh không có ý kiến gì về con chung, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[3] Án phí hoân nhaân vaø gia ñình sơ thẩm chị M phaûi chịu 300.000 đồng theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì caùc leõ treân;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Các Điều 9, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nH và gia đình;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nH: Chấp nhận cho chị Nguyễn Diễm M được ly hôn với anh Ngô Minh H.

Về con chung: Giao con là Ngô Nguyễn Gia H sinh ngày 23/4/2019 cho chị Nguyễn Diễm M tiếp tục nuôi. Anh Ngô Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí hôn nH và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Diễm M phải chịu án phí hôn nH và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0005090 ngày 04/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, chị M nộp đủ án phí hôn nH và gia đình sơ thẩm. Anh Ngô Minh H không phải chịu án phí hôn nH và gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm chị Nguyễn Diễm M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Ngô Minh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ