vanban.org

Bản án 80/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 27/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lại Quang C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lại Quang C 01 (một) năm tù, đƣợc trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 01/6/2019 đến 04/6/2019). Buộc bị cáo phải chấp hành 11 (mƣời một) tháng 27 (hai mƣơi bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Lại Qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lại Quang C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KHOÁI CHÂU
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2019/HSST
Ngày 27/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƢNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Hòa. 2. Bà Đặng Thị Thêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hƣng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên: Bà Lê Thị Thùy - Kiểm sát viên. Ngày 27/9/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hƣng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2019/TLST-HS ngày 12/9/2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 81/2019/HSST-QĐ ngày 16/9/2019 đối với bị cáo: Họ và tên: Lại Quang C, sinh năm: 1975. HKTT, trú tại: thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hƣng Yên. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 05/12, Nghề nghiệp: Làm ruộng. Con ông: Lại Quang D, Đã chết Con bà: Tạ Thị Vi Đã chết Anh, chị em ruột: Có 07 ngƣời, bị cáo là thứ 7. Vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1981 Con: Có 02con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2005 Tiền án, tiền sự: chƣa có C bị tạm giữ từ ngày 01/6/2019 đến ngày 04/6/2019 thì đƣợc thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người làm chứng: 1. Anh Nguyễn Chí T, sinh năm: 1983. (vắng mặt). Trú tại: thôn Q xã H huyện K tỉnh Hƣng Yên. 2. Anh Bùi Văn S, sinh năm 1975; (vắng mặt). Trú tại: thôn X xã H huyện K tỉnh Hƣng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma túy nên khoảng 08 giờ ngày 01/6/2019, Lại Quang C mang theo 100.000 đồng đi bộ từ nhà mình ở thôn A, xã Đ, huyện K đến thôn Q, xã H, huyện K để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến đoạn đƣờng bê tông của thôn Q, xã H, C gặp một ngƣời đàn ông lạ mặt khoảng 40 tuổi, tóc cắt ngắn, mặc quần áo dài tối màu đứng ở cạnh đƣờng trông giống ngƣời nghiện ma túy nên đi đến gần và hỏi “Anh có ma túy loại heroin không bán cho em 100.000 đồng”. Ngƣời này bảo “Có” nên C lấy 100.000 đồng đƣa cho ngƣời này. Ngƣời đàn ông cầm tiền rồi lấy từ trong ngƣời ra đƣa cho C 01 gói nilon màu đen. Biết chắc chắn bên trong là ma túy nên C cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay về, đi đƣợc một đoạn thì C bị Công an huyện K kết hợp cùng Công an xã H kiểm tra phát hiện bắt quả tang, đồng thời C đã tự giác giao nộp gói ma túy vừa mua chƣa kịp sử dụng. Cơ quan điều tra đã thu giữ và niêm phong gói nilon nói trên của C gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 337/PC09 ngày 08/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hƣng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi thu của Lại Quang C, có khối lƣợng là 0,120g, là ma túy, là loại heroin.

Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho C, do không xác định đƣợc tên tuổi địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Cáo trạng số: 91/CT - VKSKC ngày 12/9/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hƣng Yên, truy tố bị cáo Lại Quang C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lại Quang C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt Lại Quang C từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, đƣợc trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/6/2019 đến ngày 04/6/2019; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy số Heroin còn lại sau giám định.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Khoái Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, việc giao nộp và thu thập tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo, của ngƣời làm chứng, cùng các chứng cứ, tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 01 tháng 6 năm 2019, tại đoạn đƣờng bê tông thuộc thôn Q, xã H, huyện K, tỉnh Hƣng Yên, Lại Quang C đã có hành vi tàng trữ 0,120 gam Hêrôin mục đích để sử dụng nhƣng chƣa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Lại Quang C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo tội danh và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Lại Quang C theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 91/CT - VKSKC ngày 12/9/2019 là hoàn toàn có căn cứ, chính xác, đúng ngƣời, đúng tội.

[3] Về nhân thân: Bị cáo tuy phạm tội lần đầu, nhƣng thuộc trƣờng hợp nghiêm trọng và là ngƣời nghiện ma tuý.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và một số tội phạm khác, chỉ vì muốn đáp ứng nhu cầu nghiện ma tuý của mình, bị cáo đã coi thƣờng kỷ cƣơng, bất chấp pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên cần phải có hình phạt tƣơng xứng, mục đích để trừng trị kẻ phạm tội, đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành ngƣời có ích cho xã hội, điều này là hoàn toàn phù hợp với chính sách pháp luật hình sự của Nhà nƣớc đối với tội phạm ma tuý. Đây cũng là bài học giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật đối với mọi ngƣời và là bài học cho những kẻ muốn đi vào con đƣờng phạm tội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tƣợng nghiện ma túy, nghề nghiệp làm ruộng, thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu, cho tiêu hủy phong bì niêm phong cùng 0,102 gam Heroine hoàn lại sau khi Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hƣng Yên giám định.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Quyết định chuyển vật chứng số 62/QĐ-VKS-KC ngày 12/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu)

[8] Về án phí: Bị cáo Lại Quang C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Đối với ngƣời đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lại Quang C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lại Quang C 01 (một) năm tù, đƣợc trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 01/6/2019 đến 04/6/2019). Buộc bị cáo phải chấp hành 11 (mƣời một) tháng 27 (hai mƣơi bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Lại Quang C.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong cùng 0,102 gam Heroine hoàn lại sau giám định .

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Quyết định chuyển vật chứng số 62/QĐ-VKS-KC ngày 12/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu)

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lại Quang C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ