- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 1 Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 6, 19, 24, 26 và điểm a …
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80 /2019/HNGĐ-ST Ngày 15 /7 /2019 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Phấn
Ông Trần Đăng Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lệ Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2019 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H - Sinh năm: 1990.
Trú quán: Thôn Đ, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Th – Sinh năm 1984
Trú quán: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02 không có lý do.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 3 năm 2019, bản tự khai ngày 09/4/2019 và quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Thanh Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 30/12/2013. Trong quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống cũng như trong công việc làm ăn. Chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở từ năm 2016 đến nay và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó. Đến nay chị Vũ Thị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được, hạnh phúc đã thực sự tan vỡ nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thanh Th.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Thanh M - sinh ngày 30/10/2014 ( giới tính: Nữ), cháu phát triển bình thường về thể lực và trí lực, không ốm đau bệnh tật gì.Từ trước đến nay cháu M ở cùng với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Nguyễn Thanh Th phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng cùng chị H.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 03/5/2019 và các lời trình bày khác bị đơn là anh Nguyễn Thanh Th trình bày:
- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh Th và chị Vũ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mậu Lâm, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 30/12/2013. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn không thể chung sống với nhau được nữa nên chị H làm đơn xin ly hôn anh Th cũng đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Thanh Mến - sinh ngày 30/10/2014 ( giới tính: Nữ), cháu phát triển bình thường về thể lực và trí lực, không ốm đau bệnh tật gì. Khi ly hôn anh Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị Vũ Thị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng cùng anh Th.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị Vũ Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Nguyễn Thanh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa như sau:
- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay, thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình và tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02 không có lý do.
- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H, xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh Th.
Giao con chung là Nguyễn Thanh M, sinh ngày 30/10/2014 ( giới tính: Nữ) cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thanh Th không phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Vũ Thị H vì chị H không có yêu cầu.
-Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vũ Thị H có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh Nguyễn Thanh Th có hộ khẩu thường trú tại xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định đây là vụ án: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Anh Nguyễn Thanh Th đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Th là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Thanh Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mậu Lâm, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 30/12/2013. Xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Thanh Th là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do tính tình không hợp nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nhất là từ năm 2016, chị Vũ Thị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Chị Vũ Thị H xét thấy đến nay tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Thanh Th không còn nữa nên đề nghị được giải quyết ly hôn anh Nguyễn Thanh Th. Anh Nguyễn Thanh Th cũng xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị H không còn nên anh Th đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh được ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Thanh Th đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh Th là phù hợp.
Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Thanh Th thống nhất vợ, chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Thanh M - sinh ngày 30/10/2014 ( giới tính: Nữ), cháu phát triển bình thường về thể lực và trí lực, không ốm đau bệnh tật gì.Từ trước đến nay cháu M ở cùng với chị H. Khi ly hôn chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Thanh Th đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh Mến và hai bên đều không yêu cầu đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Thanh Th đều có nguyện vọng được nuôi con đây là nguyện vọng hoàn toàn chính đáng.Tuy nhiên xét điều kiện, hoàn cảnh và đảm bảo cuộc sống sinh hoạt và phát triển về trí lực và thể lực cho cháu bé, thấy rằng: Cháu Nguyễn Thanh M đang được chị Vũ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ trước đến nay, cuộc sống sinh hoạt và học tập của cháu M đang ổn định. Cháu Nguyễn Thanh M phát triển tốt về thể chất cũng như tinh thần. Chị Vũ Thị H có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, có nhà ở ổn định. Anh Nguyễn Thanh Th, không xuất trình chứng cứ chứng minh về điều kiện nuôi con, anh Th đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nên địa phương cũng không nắm được anh Th hiện nay đang làm gì, thu nhập như thế nào. Ở xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa anh Th không có nhà đất riêng, khi về địa phương anh Th sinh sống cùng với bố đẻ. Để không làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt, không gây ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển bình thường của cháu bé về mọi mặt, do đó giao cháu Nguyễn Thanh M cho chị Vũ Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chị Vũ Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Thanh Th đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là sự tự nguyện của chị Vũ Thị H nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị Vũ Thị H có quyền làm đơn yêu cầu anh Nguyễn Thanh Th phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung bằng một vụ án khác.
Anh Nguyễn Thanh Th được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm anh thực hiện quyền này và anh có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con theo quy định tại điều 82, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Về tài sản chung và công nợ chung:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Thanh Th thống nhất vợ, chồng không có tài sản gì chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 6, 19, 24, 26 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chị Vũ Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 1 Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 6, 19, 24, 26 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Thanh Th.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung Nguyễn Thanh M, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2014 (Giới tính: Nữ) cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên (18 tuổi).
2.2. Anh Nguyễn Thanh Th chưa phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Vũ Thị H. Chị H có quyền làm đơn yêu cầu anh Th phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung bằng một vụ án khác.
2.3. Anh Nguyễn Thanh Th có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, ngăn cấm anh thực hiện quyền này và anh có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0002295 ngày 18/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. (Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự– Hôn nhân và gia đình sơ thẩm).
Chị Vũ Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Thanh Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Lộc; - UBND xã Mậu Lâm – Như Thanh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Sơn |