- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LX TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2019/DS-ST Ngày: 25/11/2019 V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LX
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Bích Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Mỹ Hường
2. Bà Phan Hoàng Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Bích - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố LX.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LX tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 25 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố LX xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2019/TLST-DS, ngày 18 tháng 7 năm 2019 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 01 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2019/QĐST-DS, ngày 23 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S).
Trụ sở: Số 266 – 268, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, Quận 3, thành phố H. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D– Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Văn H, sinh năm 1969. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S - chi nhánh An Giang (Theo văn bản ủy quyền số 4050/2018/GUQ-PL ngày 10/12/2018).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Huỳnh Hùng Kh, sinh năm 1979. Chức vụ: Phó phòng Cá nhân - chi nhánh An Giang (Theo văn bản ủy quyền ngày 19/6/2019) - (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Thị Thu Th, sinh năm 1976; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 172/4, đường Thoại Ngọc Hầu, phường M, thành phố LX, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2019 và tờ tự khai ngày 19/6/2019, trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn ông Huỳnh Hùng Kh trình bày:
Ngày 06/02/2018, bà Trần Thị Thu Th có ký hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01041-00178 với Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S – chi nhánh An Giang. Ngân hàng cho bà Th vay vốn với số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), với mục đích sử dụng vào bổ sung vốn kinh doanh ăn uống, thời hạn vay là 181 ngày và thời điểm trả hết nợ ngày 06/8/2018, cho vay không có tài sản bảo đảm.
Ngày 06/02/2018 bà Th nhận tiền vay. Từ khi vay vốn, bà Th đã thanh toán số tiền vốn là 10.215.400 đồng và tiền lãi là 178.200 đồng.
Từ ngày 30/3/2019 đến nay bà Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng việc này đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký, Ngân hàng nhiều lần làm việc và nhắc nhở nhưng bà Th không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng. Do bà Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2.1 trong điều khoản chung về cấp tín dụng của ngân hàng) từ ngày 30/3/2019 ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn quy định tại mục b của khoản 2.1) tính đến ngày 06/6/2019 bà Th còn nợ lại ngân hàng số tiền 23.176.900 đồng (trong đó vốn gốc là 19.784.600 đồng, lãi quá hạn là 3.392.300 đồng).
Do bà Th vi phạm hợp đồng nên ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S) do ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S – chi nhánh An Giang yêu cầu bà Trần Thị Thu Th phải trả số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 06/6/2019 tổng cộng 23.176.900 đồng, đồng thời yêu cầu tính lãi suất phát sinh tính từ ngày 07/6/2019 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
* Quá trình tòa án giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị Thu Th vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và lần thứ hai tại phiên tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến cũng như cung cấp chứng cứ, chứng minh không phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện nguyên đơn ông Huỳnh Hùng Kh vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu bà Trần Thị Thu Th phải có trách nhiệm trả nợ vay cho ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S) do ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S – chi nhánh An Giang số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử (25/11/2019) là 23.176.900 đồng (trong đó vốn là 19.784.600 đồng, lãi quá hạn là 3.392.300 đồng); tiếp tục tính lãi suất phát sinh tính từ ngày 26/11/2019 trên vốn gốc theo hợp đồng cho đến khi tất toán số nợ.
Bà Trần Thị Thu Th vắng mặt đến lần thứ hai không lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Trần Thị Thu Th theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S) với bà Trần Thị Thu Th là tranh chấp hợp đồng dân sự nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo qui định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S(S) là nguyên đơn trong vụ án khởi kiện và xác định bà Trần Thị Thu Th là bị đơn phù hợp theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ngân hàng ký văn bản ủy quyền cho ông Huỳnh Hùng Kh tham gia tố tụng tại tòa án. Căn cứ vào Điều 85, Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận ông Kh tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền.
Đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S) ông Huỳnh Hùng Kh có đơn đề ngày 25/11/2019 xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Bị đơn bà Trần Thị Thu Th vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nhưng Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Th được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của bà Th không gây trở ngại cho việc xét xử.
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.” Do đó Tòa án niêm yết theo quy định. Căn cứ Điều 2, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017; khoản 5 Điều 177, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; điểm b, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Hùng Kh bà Trần Thị Thu Th.
- Về nội dung:
Theo đại diện nguyên đơn ông Huỳnh Hùng Kh trình bày, ngày 06/02/2018 bà Trần Thị Thu Th có ký hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số 01041-00178 với Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S – chi nhánh An Giang vay vốn với số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), với mục đích sử dụng vào bổ sung kinh doanh ăn uống. Quá trình vay, bà Th còn nợ ngân hàng số tiền vốn gốc và lãi tính đến ngày xét xử (25/11/2019) là 23.176.900 đồng (trong đó vốn là 19.784.600 đồng, lãi quá hạn là 3.392.300 đồng); tiếp tục yêu cầu tính lãi suất phát sinh tính từ ngày 26/11/2019 trên vốn gốc theo hợp đồng tín dụng cho đến khi tất toán xong nợ.
Đại diện nguyên đơn ông Huỳnh Hùng Kh yêu cầu bị đơn phải thanh toán vốn, lãi tính đến ngày xét xử 25/11/2019 và yêu cầu tính trên nợ gốc kể từ ngày 26/11/2019 đến khi tất toán xong nợ.
Bị đơn bà Trần Thị Thu Th đã vi phạm hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S) khởi kiện nhưng bị đơn không thể hiện ý kiến phản đối bằng văn bản là cố tình né tránh, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cũng như không giao nộp cho tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật Điều 466, 468 Bộ luật dân sự, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 6 khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S) được tòa án chấp nhận nên nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn bà Trần Thị Thu Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
{
- Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 85, Điều 86; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân tối cao;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử vắng mặt đại diện nguyên đơn ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S) ông Huỳnh Hùng Kh và bà Trần Thị Thu Th.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S).
[1] Buộc bà Trần Thị Thu Th phải thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S) do Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S– chi nhánh An Giang đại diện nhận, tính đến ngày 25/11/2019 số tiền 23.176.900 đồng (hai mươi ba triệu, một trăm bảy mươi sáu nghìn, chín trăm đồng) trong đó vốn là 19.784.600 đồng, lãi quá hạn là 3.392.300 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 26/11/2019, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Trần Thị Thu Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.158.845 đồng (một triệu, một trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi lăm đồng).
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (S) do Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S – chi nhánh An Giang đại diện nhận tiền tạm ứng án phí đã nộp là 570.000 đồng (năm trăm bảy mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004940 ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND TP.LX; - THADS Tp.LX; - Các đương sự; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Huỳnh Bích Tuyền |