- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn L phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Trần Văn L, sinh năm 1963.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN H.QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH _________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 80/2018/HSST Ngày 15/5/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ - TỈNH BẮC NINH
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.
Hội Thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hãn, bà Nguyễn Thị Chung.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thứ, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2018/TLST-HS, ngày 27 tháng 4 năm 2018. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2018/HSST-QĐ ngày 4/5/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn L, sinh năm 1963.
STQ: Thôn Kiều Lương, xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp; Làm ruộng. Văn hóa; 3/10. Quốc tịch; Việt Nam. Dân tộc; Kinh; Tôn giáo; không. Bố đẻ: Trần Văn Phùng (đã chết). Mẹ đẻ; Nguyễn Thị Nhân (đã chết). Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ 4. Bị cáo hiện đang sống như vợ chồng với chị Mai Thị Kiên, con có 4 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 2001.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 30/9/2015 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2018 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn L là đối tượng nghiện ma túy sinh sống tại thôn Kiều Lương, xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/01/2018 L đi từ nhà sang nhà Thuấn (Tục) ở cùng thôn mua được 150.000 đồng tiền ma túy với mục đích để sử dụng. Số ma túy mua được L sử dụng một ít, số còn lại L gói và để trong vỏ bao thuốc lá đem theo trên người.
Khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi L đang ở nhà chị Mai Thị Kiên, sinh năm 1967 ở cùng thôn thì có Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1987 người thôn Vũ Dương, xã Bồng Lai, huyện Quế Võ đến gặp và hỏi “Chú có còn thuốc không để bớt cho cháu một ít ?”. L hiểu ý của Hoàng là hỏi mua ma túy, L bảo “Không có” nhưng Hoàng cứ nài nỉ nên L đã đồng ý bán số ma túy còn lại cho Hoàng với giá 100.000 đồng. Khi Hoàng đưa cho L 100.000 đồng, L cầm và đút vào túi quần phía sau bên phải đang mặc đồng thời đưa cho Hoàng một gói bọc ngoài bằng giấy vỏ bao thuốc lá, bên trong là giấy bạc màu trắng chứa chất dạng bột màu trắng. Hoàng biết là ma túy cần mua nên cầm đút vào túi quần phía sau bên phải đang mặc thì bị lực lượng Công an huyện Quế Võ phối hợp Công an xã Đức Long bắt quả tang. L và Hoàng đã tự nguyện giao nộp số tiền và số ma túy đang cất giữ trên người.
Tại bản kết luận giám định số 252/KLGĐ-PC54 ngày 01/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh đã kết luận “Chất dạng bột màu trắng bên trong một gói bọc ngoài bằng vỏ bao thuốc lá có khối lượng 0,0103 gam là chất ma túy loại ma túy Heroin”
Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 60/CTr-VKS ngày 27/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố Trần Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ Luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Sau khi phân tích các chứng cứ, tình tiết của vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với trọng lượng 0,0103 gam chất ma túy Heroin và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự, xử phạt Trần Văn L từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2018. Về vật chứng, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy mẫu vật chứng còn lại sau giám định, tịch thu xung công quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng.
Bị cáo L nhận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn L tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 31/01/2018 tại khu vực cổng nhà chị Mai Thị Kiên ở thôn Kiều Lương, xã Đức Long, huyện Quế Võ bị cáo Trần Văn L đã bị bắt quả tang có hành vi bán trái phép số ma túy chất Heroin có khối lượng 0,0103 gam cho Nguyễn Văn Hoàng thu được số tiền 100.000 đồng.
Hành vi bán số ma túy Heroin thuộc danh mục Nhà nước cấm sử dụng theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ của bị cáo L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật. Do vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy; Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ Luật hình sự. Tuy nhiên ngày 26/7/2013 bị cáo đã bị Tòa án kết án 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bản án này tuy bị cáo đã được xóa án tích nhưng chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Do vậy lần phạm tội này cần có hình phạt nghiêm khắc dành cho bị cáo để giáo dục, răn đe đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự, đây là tình tiết để Hội đồng xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là loại tội phạm mà hiện nay đang bị cả xã hội nên án mạnh mẽ, đây cũng là loại tội phạm để lại hậu quả vô cùng to lớn cho xã hội, bị cáo lại có nhân thân xấu nên cần có hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục cải tạo bị cáo. Tuy nhiên cũng cần xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo để quyết định hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo với mục đích thu lời bất chính nên đáng lẽ phải áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo bị cáo là người nghiện ma túy đã lâu, hiện bị cáo cũng phải nuôi hai con chưa thành niên, thu nhập bấp bênh, kinh tế có khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Nguyễn Văn Hoàng là người đã có hành vi mua ma túy của L, Hoàng khai người thôn Vũ Dương, xã Bồng Lai và có bố là Nguyễn Văn Quyền, mẹ là Nguyễn Thị Quyến. Quá trình bắt giữ, Hoàng đã lợi dụng sơ hở bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có ai tên Hoàng như đã khai nên đã tách ra tiếp tục xác minh để xử lý sau là phù hợp.
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo L khai do mua của một người tên Thuấn (Tục) ở cùng thôn, Cơ quan điều tra đã xác minh có Vũ Văn Thuấn, sinh năm 1975 ở cùng thôn. Tuy nhiên Thuấn không thừa nhận ngày 31/01/2018 đã bán ma túy cho L, cơ quan điều tra cũng đã tiến hành đối chất nhưng vẫn chưa xác định được Thuấn bán ma túy cho L nên đã tách ra tiếp tục xác minh để xử lý sau là có căn cứ.
Đối với chị Lê Thái Hậu là người đi cùng với Hoàng và chị Mai Thị Kiên cũng không biết việc L và Hoàng mua bán ma túy với nhau nên Cơ quan điều tra cũng không xử lý là có căn cứ.
Tang vật của vụ án: Số ma túy Heroin còn lại sau giám định là vật không được sử dụng nên cần áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 100.000 đồng mà cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo L, đây là số tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật hình sự; Xử phạt Trần Văn L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2018.
2. Căn cứ Điều 228 Bộ Luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Trần Văn L 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/5/2018 để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroin còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. Tịch thu xung công quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 2/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Bắc Ninh.
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. -VKSND huyện Quế Võ. -Công an huyện Quế Võ. -Chi cục THA dân sự huyện Quế Võ. -Những người tham gia tố tụng. -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.
Nguyễn Sỹ Cây TOÀ ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập – Tự do - Hạnh Phúc
__________
__________________________________
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi.....giờ.....ngày 15 tháng 05 năm 2018
Tại phòng nghị án của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hữu Hãn, bà Nguyễn Thị Chung.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 04 năm 2018 đối với:
Bị cáo Trần Văn L, sinh năm 1963.
HKTT: Thôn Kiều Lương, xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC
VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
1. Về tội danh; tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.
2. Về điều luật áp dụng:
Áp dụng Khoản 1 Điều 151; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ Luật hình sự. Điều 106, Điều 136; Điều 228 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.
3. Về mức hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2018.
- Quyết định tạm giam bị cáo Trần Văn L 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/5/2018 để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroin còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh. Tịch thu xung công quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 2/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ)
- Buộc bị cáo L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nghị án kết thúc vào hồi…....giờ..….phút, ngày 15 tháng 05 năm 2018.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hữu Hãn
Nguyễn Thị Chung
Nguyễn Sỹ Cây TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
__________
____________________________________
Số: 73/2018/TL-HS
Quế Võ, ngày 15 tháng 5 năm 2018
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 80/2018/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2018.
Đối với bị cáo Trần Văn L, sinh năm 1963.
HKTT: Thôn Kiều Lương, xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Con ông Trần Văn Phùng (đã chết), con bà Nguyễn Thị Nhân (đã chết).
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn L 30 (Ba mươi ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí đối với bị cáo.
Nơi nhận.
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ -Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
Thẩm phán -Bị cáo L
Nguyễn Sỹ Cây TÒA ÁN NHÂN DÂN H.QUẾ VÕ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________
_________________________________ Số: 63/2018/HSST-QĐTG
Quế Võ, ngày 15 tháng 5 năm 2018
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hãn, bà Nguyễn Thị Chung.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ Luật tố tụng hình sự.
Căn cứ biên bản nghị án ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Tạm giam bị cáo: Trần Văn L, sinh năm 1963.
HKTT: Thôn Kiều Lương, xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật hình sự.
Thời hạn tạm giam là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Điều 2.
Cơ sở giam giữ Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm thi hành Quyết định này. Nơi nhận
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh.
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện Quế Võ.
- Bị cáo L.
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Sỹ Cây
| Nơi nhận -TAND tỉnh Bắc Ninh. -VKSND huyện Quế Võ. -Công an huyện Quế Võ. -Chi cục THA dân sự huyện Quế Võ. -Những người tham gia tố tụng. -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Hữu Hãn Nguyễn Thị Chung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. 4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Sỹ Cây |