vanban.org

Bản án 80/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Mùa A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Mùa A L 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (17/6/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Mùa A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––
Bản án số: 80/2018/HSST
Ngày: 15- 11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thào Nhè Cáng;

2. Ông Lò Văn Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:

Ông Lê Thành Công - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2018/TLST - HS, ngày 09 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2018/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mùa A L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1972, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản NC 1, xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ tên cha: Mùa Tùng S (Đã chết); Họ tên mẹ: Lù Thị N; Sinh năm 1945; Anh chị em ruột: Có 10 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Sùng Thị A; Sinh năm 1982; Bị cáo có 04 con, con lớn nhất 19 tuổi, con nhỏ nhất 9 tuổi; Hiện vợ và con của bị cáo đang cư trú tại Bản NC 1, xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã D, huyện M, tỉnh Yên Bái, từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến lớp 6 thì bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1989 di cư cùng gia đình về xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên làm ăn sinh sống. Năm 1996 bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Lai Châu (cũ), nay là tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội vận chuyển trái phép chất ma túy (được hưởng án treo và thử thách 48 tháng). Năm 1999 lấy vợ, xây dựng gia đình và làm ăn tại xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên. Năm 2003 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tháng 6 năm 2005 chấp hành xong hình phạt về cư trú tại xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên cho đến ngày 17/6/2018 bị bắt phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2018, sau đó bị tạm giam cho đến nay; Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 17/6/2018, tổ công tác Công an huyện NP phối hợp với Công an xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản NC 1, xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên phát hiện một người đàn ông đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu người đàn ông đó đứng lại thì thấy người đàn ông thả một vật từ tay xuống đất. Tổ công tác yêu cầu người đàn ông đó nhặt vật vừa thả xuống đất lên thì thấy đó là 01 (Một) gói nilon mầu hồng, mở ra bên trong có chứa chất bột dạng nén mầu trắng đục nghi là Heroine.

Đối tượng khai tên Mùa A L. Gói chất bột dạng nén, mầu trắng trong gói nilon là Heroine là của L. Số Heroine này L mua của một người đàn ông nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Ma Thì Hồ, xã Ma Thì Hồ, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên với giá 200.000đ. Mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.

Trong quá trình điều tra bị cáo Mùa A L thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

2. Các vấn đề khác:

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 18/6/2018 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định: khối lượng 01 (gói) gói vật chứng thu giữ của Mùa A L nghi là Heroine có tổng khối lượng là 0,18g (Không phẩy mười tám gam). Trộn đều tách lấy 0,03g (Không phẩy không ba gam) làm mẫu vật gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 612/GĐ-PC54 ngày 02/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

Mẫu chất bột màu trắng được trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A L gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Khối lượng vật chứng thu giữ của Mùa A L là 0,18g Heroine.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên nêu trên.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số 55/CT-VKSNP ngày 08/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện NP để xét xử bị cáo Mùa A L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A L từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy: 0,18 gam heroin là vật chứng của vụ án (Đã trích 0,03gam làm mẫu vật gửi giám định còn lại 0,15 gam). Tất cả đều được niêm phong trong 01(một) phong bì niêm phong của Công an huyện NP, tỉnh Điện Biên.

Miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện NP, tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào Hồi 15 giờ 00 phút ngày 17/6/2018 tại bản NC 1, xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên, Mùa A L đã có hành vi cất giấu trái phép 0,18gam Heroine. L đã khai nhận đó là Heroine, mục đích mua để sử dụng cho bản thân. Hành vi đó của Mùa A L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm. Hành vi tàng trữ ma túy nêu trên của Mùa A L có đủ các yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 249 quy định: " Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam";

Do đó kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Mùa A L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp; Phạm tội vì mục đích sử dụng cho nhu cầu của bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Vì vậy, khẳng định là: Bản cáo trạng số 55/CT-VKSNP ngày 08/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguyên nhân xuất phát từ động cơ, mục đích mua ma túy phục vụ nhu cầu bản thân. Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã D, huyện M, tỉnh Yên Bái, từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến lớp 6 thì bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1989 di cư cùng gia đình về xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên làm ăn sinh sống. Năm 1996 bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Lai Châu (cũ), nay là tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội vận chuyển trái phép chất ma túy (được hưởng án treo và thử thách 48 tháng). Năm 1999 lấy vợ, xây dựng gia đình và làm ăn tại xã SPP, huyện NP, tỉnh ĐIện Biên. Năm 2003 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tháng 6 năm 2005 chấp hành xong hình phạt về cư trú tại xã SPP, huyện NP, tỉnh Điện Biên cho đến ngày 17/6/2018 bị bắt phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo xuất thân trong gia đình lao động nhưng không chịu lao động, tu dưỡng bản thân mà nghiện ma túy. Bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ sử dụng dần cho bản thân

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây cũng là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.

Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Lai Châu (cũ), nay là tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội vận chuyển trái phép chất ma túy (được hưởng án treo và thử thách 48 tháng) vào năm 1996. Năm 2003 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã hai lần bị xét xử về hành vi vận chuyển và tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy để phục vụ nhu cầu bản thân. Do vậy khẳng định bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật, bằng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội đời thường một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành người có ích cho chính bị cáo và gia đình bị cáo.

Xét thấy khung hình phạt của đại diện Viện Kiểm Sát đề nghị tuyên phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù đảm bảo và phù hợp trong khung luật định.

. Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) về hình phạt bổ sung là phạt tiền, HĐXX xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án:

Đối với 0,18 gam heroine là vật chứng của vụ án (Đã trích 0,03gam làm mẫu vật gửi giám định còn lại 0,15 gam) là vật chứng của vụ án được niêm phong trong 01(một) phong bì niêm phong của Công an huyện NP cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Khoản 1; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

. Các vấn đề khác:

Bị cáo khai mua số ma túy trên của một người đàn ông nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đó ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP không có cơ sở để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định. Viện kiểm sát không truy tố, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xét miễn án phí HSST cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, HĐXX xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí HSST theo quy định.

. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 BLTTHS năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Mùa A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Mùa A L 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (17/6/2018).

[3]. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Khoản 1; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam heroine là vật chứng còn lại của vụ án (Đã trích 0,03 gam làm mẫu vật gửi giám định) được niêm phong trong 01(một) phong bì niêm phong của Công an huyện NP (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện NP, tỉnh Điện Biên).

[4]. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo Mùa A L được miễn án phí HSST theo quy định.

[5]. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 BLTTHS năm 2015, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 15/11/2018./.

Cỡ chữ