- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2018/HS-ST Ngày 17/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mùi Văn Huấn
Bà Trần Thị Thu Thủy
-Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế Ch; tên gọi khác: Không; sinh năm 1982 tại huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Thôn 4, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1959 và bà Trần Thị Hạnh Ph (đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị Bé Th (đã ly hôn) và 03 con, con lớn 13 tuổi, con nhỏ 8 tuổi; tiền án: Có 01 tiền án, ngày 29/9/2014 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/01/2002 Tòa án nhân dân tỉnh Đ xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản đến ngày 02/9/2002 được đặc xá tha tù trước thời hạn.
Bị bắt tạm giữ ngày 26/4/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Vũ Văn A, sinh năm 1988; Trú tại: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/4/2018, tổ công tác Công an huyện V đang làm nhiệm vụ tại bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La, tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Thế Ch. Qua kiểm tra, Ch tự giác lấy ra từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc 01 gói nilon màu trắng, Ch khai nhận đó là Heroine của Ch tàng trữ mục đích để sử dụng. Căn cứ hành vi vi phạm, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải Nguyễn Thế Ch đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V để điều tra làm rõ.
Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng chất bột màu trắng. 01 điện thoại di động Xphone màu xanh đen đã qua sử dụng, 500.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngày 26/4/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Thế Ch được 0,19 gam lấy 0,03 gam làm mẫu giám định ký hiệu C, mẫu ký hiệu C được gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại chất ma túy, khối lượng ma túy.
Tại kết luận giám định số: 547 ngày 01/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận:“Mẫu gửi giám đinh ký hiệu C là chất ma túy; loại chất heroine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 0,19 gam, loại chất heroine”.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu ở trên, bị cáo mua ma túy và cất giấu ma túy mục đích là để sử dụng cho bản thân vì bị cáo mắc nghiện ma túy.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 16/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện V giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Ch từ 24 (hai mươi tư) tháng tù đến đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Nguyễn Thế Ch.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 0,16 gam heroine còn lại cùng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Thế Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thế Ch khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Bản kết luận giám định số 547 ngày 01/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến anh Vũ Văn A, sinh năm 1988, trú tại: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 26/4/2018, bị cáo Nguyễn Thế Ch đã có hành vi tàng trữ 0,19 gam heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thế Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định.
Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng. Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, sau khi được đặc xá lại tiếp tục phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội về ma túy. Vì vậy, phải xử lý nghiêm khắc cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Nguyễn Thế Ch đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Nguyễn Thế Ch còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ: Theo lời khai của Nguyễn Thế Ch nhờ một người đàn ông không quen biết tại bản B, xã V, huyện V mua hộ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý người mua ma túy cho Nguyễn Thế Ch.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì đã niêm phong bên trọng đựng 0,16 gam heroine còn lại cùng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy là những vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động Xphone vỏ màu đen là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền 500.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tuy không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án, trả lại bị cáo 300.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Ch 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2018 (là ngày bị bắt đối với bị cáo).
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 0,16 gam heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy.
Tạm giữ của bị cáo 200.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam để đảm bảo thi hành án.
Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Xphone vỏ màu đen và 300.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |