- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh T “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật hình sự tuyên; Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên; Điều 135 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2018/HS-PT Ngày: 19-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Hiệp
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Nguyễn Hữu Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 108/2018/TLPT-HS ngày 20 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Phạm Minh T do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2018/HS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Minh T; sinh năm: 1979 tại tỉnh Đồng Nai; nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn b, xã LN, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đình L, sinh năm: 1952; con bà: Đỗ Thị B, sinh năm: 1952; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1981; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2006; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06-4-2018 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng;
Tiền sự: Không; tiền án: Có 02 tiền án: Tại bản án số 25/2013/HS-ST ngày 11-4-2013 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai xử phạt Phạm Minh T 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tháng 01-2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt; Tại bản án số 101/2015/HS-ST ngày 29-10-2015 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Phạm Minh T 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04-4-2018 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ông Nguyễn Văn H, ở thôn t, xã TL, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng có một số đối tượng nghi vấn liên quan đến việc sử dụng ma túy nên Công an huyện Bảo Lâm, Công an xã Tân Lạc tiến hành kiểm tra. Tại nhà ông H lúc này có Phạm Minh T. Tiến hành kiểm tra người của T phát hiện và thu giữ:
Bên trong túi quần lửng bên phải phía trước T đang mặc có: 01 gói nylon màu xanh kích thước 2,5cm x 3,5cm bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong gói giấy bạc có 01 gói giấy lịch màu xanh trắng có chứa 03 cục bột trắng ngà, có kích thước mỗi gói là 0,8 cm x 0,8cm; 01 gói nylon màu hồng kích thước 2cm x 1cm bên trong chứa gói nylon màu trắng chứa các hạt tinh thể màu trắng. Bên trong túi quần lửng bên trái phía trước T đang mặc có: 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước 1cm x 1cm bên trong chứa các chất bột màu trắng ngà dạng cục.
Tại Kết luận giám định số 595/GĐ-PC54 ngày 06-4-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Chất ở dạng cục bột: mẫu cục bột đựng trong 02 gói giấy được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,4786g, loại Heroine; chất ở dạng tinh thể: mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1203g, loại Methamphetamine; (Heroine và Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục I, II, STT: 20 và 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19-7-2013 của Chính phủ).
Quá trình điều tra xác định được Phạm Minh T là đối tượng nghiện ma túy, chấp hành xong hình phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vào ngày 07-02-2018. Ngày 03-4-2018 T đến Bến xe Đức Long, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng mua của một người chạy xe ôm (không rõ lai lịch) 2.000.000đ ma túy Heroine và được cho thêm 01 gói ma túy đá để sử dụng. Sau đó Tuấn mang số ma túy mua được đến nhà Nguyễn Văn H (là đối tượng nghiện ma túy) để cùng sử dụng. T đã sử dụng số ma túy trên được 04 lần, số còn lại T cất giấu trong túi quần lửng đang mặc trên người. Đến trưa ngày 04-4-2018 thì bị Công an huyện Bảo Lâm, Công an xã Tân Lạc kiểm tra bắt giữ người và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Bản án số 36/2018/HS-ST ngày 10-8-2018, Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1, điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06-4-2018.
Bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 22-8-2018 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét lời khai của bị cáo Phạm Minh T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cho thấy: Vào chiều ngày 03-4-2018 T đến Bến xe Đức Long, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng mua của một người chạy xe ôm (không rõ lai lịch) 2.000.000đ ma túy Heroine và được cho thêm 01 gói ma túy đá mang đến nhà Nguyễn Văn H ở thôn t, xã TL, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng để cùng sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04-4-2018 Tuấn bị Công an huyện Bảo Lâm, Công an xã Tân Lạc kiểm tra thu giữ toàn bộ tang vật. Tại bản kết luận giám định số 595/GĐ-PC54 ngày 06-4-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: mẫu cục bột đựng trong 02 gói giấy được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,4786g, loại Heroine; mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1203g, loại Methamphetamine. (Heroine và Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục I, II, STT: 20 và 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ).
Bị cáo Phạm Minh T nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, bị cáo nhận thức được rằng ma túy là chất kích thích bị Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện.
Chính vì vậy, Bản án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm c khoản 1, điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên đối với bị cáo Phạm Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo 08 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Minh T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết nào mới nên kháng cáo là không có cơ sở để xem xét.
Do vậy, không chấp nhận kháng cáo như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Phạm Minh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1, điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Minh T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06-4-2018.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND huyện Bảo Lâm; - VKSND huyện Bảo Lâm; - Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm; - Phòng KTNV&THA; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Chi cục THADS huyện Bảo Lâm; - Bị cáo (để thi hành); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Văn Hiệp |