- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D (sinh năm 1982), sửa bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HSST ngày 07/7/2017 của TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2017/HSPT Ngày: 18/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường.
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Công - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vững - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2017/HSPT ngày 10/8/2017. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HSST ngày 07/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm 1982.
Trú tại: Thôn N, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Con ông Nguyễn Văn Q và bà Vũ Thị Đ; vợ là Lương Thị H và có hai con 02 con, con lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 106/QĐ-XPHC ngày 06/7/2016, Nguyễn Văn D bị công an huyện Kinh Môn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; Bị cáo tại ngoại (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Các bị cáo Nguyễn Văn H và Trần Văn N kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa; 08 bị cáo khác không kháng cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 15/3/2017, tại quán cà phê Thiên Hương thuộc xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương, trong khi Trần Văn N, Bùi Văn H, Nguyễn Ngọc Đ, Lê Xuân V, Nguyễn Văn D (sinh năm 1985), Vũ Văn V, Nguyễn Văn D (sinh năm 1982), Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2 và đối tượng tự khai là Nguyễn Văn T3 ở xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương đang ngồi chơi thì có người rủ đánh bạc (không rõ là người nào), tất cả đều đồng ý. Sau đó, mọi người đi theo Bùi Văn H đến nhà Nguyễn Văn T4 ở thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương để nhờ địa điểm đánh bạc. Khi đến, T4 không có nhà. Lúc này, anh Nguyễn Tiến S (con trai T4) đang nhặt hành ở sân; Bùi Văn H hỏi anh S mượn nhà để đánh bạc, S không đồng ý và bảo phải hỏi T4. H cùng mọi người đi vào phòng khách của gia đình T4 ngồi uống nước. Lúc đó, T4 về nhà và vào phòng ngủ bên cạnh phòng khách xem ti vi. Khoảng 10 phút sau, mọi người cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. T1 lấy vỏ hộp bánh xé ra đưa cho V dùng kéo cắt thành 04 quân vị (một mặt màu đỏ và một mặt màu trắng); có người vào gian bếp lấy 01 chiếc bát và 01 chiếc đĩa bằng sứ đem ra dùng để đánh bạc (không rõ là người nào). Sau đó, mọi người ngồi xuống nền nhà (phòng khách) của gia đình Thất; lúc này, Nguyễn Văn H đến nhà T4 hỏi mua hành, thấy mọi người chuẩn bị đánh bạc liền đi vào và nói: đưa tao đánh mấy ván tao về. Sau đó, H cho 04 quân vị vào đĩa, úp bát lên xóc (xóc cái) cho N, Bùi Văn H, Đ, V1, V2, Nguyễn Văn D (SN.1985), Nguyễn Văn D (SN.1982), T1 và T2 đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa ăn tiền theo hai cửa chẵn và lẻ. Khi mở bát ra mà có 02 hoặc 04 quân bài cùng màu gọi là chẵn, nếu có 01 hoặc 03 quân bài cùng màu là lẻ. Không quy định mỗi ván đánh thấp nhất là bao nhiêu tiền, cao nhất là bao nhiêu tiền, người tham gia đánh bạc tuỳ ý đặt tiền ở bên nào cũng được. Nhưng khi mở bát là chẵn thì người đặt tiền bên chẵn sẽ được bạc, đặt tiền bên lẻ sẽ bị thua và ngược lại. Tỷ lệ được, thua là 1/1: nếu người đặt cửa thắng thì được lấy lại số tiền đã đặt và được người xóc cái trả số tiền bằng số tiền mà người thắng đã đặt ván đó, nếu người đặt cửa bị thua thì bị mất số tiền họ đã đặt cho người xóc cái. Sau khi đánh bạc được mấy ván thì Nguyễn Văn H bảo những người chơi mỗi người bỏ ra 100.000 đồng để nộp cho chủ nhà và số tiền thu được 1.000.000 đồng. Lúc đó, T4 đi ra ngoài phòng khách uống nước thì Bùi Văn H cầm số tiền trên đưa cho T4 và nói: “Có chút tiền cho chú uống nước, cho chúng cháu chơi một tý, đây là một triệu đồng”. T4 cầm tiền đút vào túi quần đang mặc và đồng ý để cho mọi người tiếp tục đánh bạc. Khoảng 23h 25 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn H đang xóc cái cho mọi người chơi thì bị Công an huyện Kinh Môn phối hợp với Công an xã Lê Ninh bắt quả tang, thu tại chiếu bạc: 17.900.000 đồng, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 02 quân bài vị; 01 điện thoại di động Nokia của Vũ Văn V2. Kiểm tra thu trong người các đối tượng: Nguyễn Văn H 70.000 đồng; Đ 2.100.000 đồng; Nguyễn Văn D (SN.1985) 7.100.000 đồng; V1 12.000.000 đồng; T4 1.000.000 đồng và quản lý của Nguyễn Văn H chiếc xe máy nhãn hiệu Wave anpha, BKS: 34K6-4601 cùng giấy đăng ký xe.
Các bị cáo khai, số tiền dùng đánh bạc cụ thể như sau: Nguyễn Văn H có 570.000 đồng, do bị thua nên cầm cố xe máy 34K6-4601 (là tài sản chung của Hưng và vợ là chị Hoàng Thị H) cho Lê Xuân V1 lấy 15.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, khi bị bắt còn lại 70.000 đồng; Viết khai có khoảng 15.000.000 đồng sử dụng hết vào việc đánh bạc, trong lúc đánh bạc nhận cầm xe máy của H với số tiền 15.000.000 đồng, số tiền 12.000.000 đồng thu trong người là tiền do đánh bạc mà có; Trần Văn N do không có tiền nên ngồi xem,sau đó Nguyễn Văn D (SN.1985) cho vay 1.000.000 đồng và tham gia, do bị thua hết nên ngồi xem; Nguyễn Văn D (SN.1985) có 5.600.000 đồng và đưa cho N 1.000.000 đồng như N khai, số tiền 7.100.000 đồng trong người bị công an thu giữ là tiền sử dụng đánh bạc và do đánh bạc mà có; Bùi Văn H có 520.000 đồng, đánh được vài ván bị thua hết, ngồi xem; Nguyễn Ngọc Đ có 2.000.000 đồng, số tiền 2.100.000 đồng trong người bị thu giữ là tiền dùng đánh bạc và do đánh bạc mà có; Nguyễn Văn D (SN.1982) có 2.000.000 đồng; Vũ Văn V2 có 2.000.000 đồng; Nguyễn Văn T1 có 1.400.000 đồng; Nguyễn Văn T2 có 50.000 đồng, T2 đánh 01 ván bị thua hết tiền nên ngồi xem.
Tại bản án sơ thẩm số 37/2017 ngày 07/7/2017, TAND huyện Kinh Môn đã áp dụng: Khoản 1 Điều 248, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 53 của Bộ luật hình sự (BLHS) đối với Nguyễn Văn Hưng; Nguyễn Văn D (SN.1982); áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 đối với bị cáo D, phạt: H 18 tháng tù. D (SN.1982) 6 tháng tù. Áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 48, khoản 2 Điều 51, khoản 5 Điều 60-BLHS, phạt N 6 tháng tù, tổng hợp hình phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo theo bản án hình sự sơ thẩm số 06/2016/HSST ngày 03-3-2016 của TAND huyện Kinh Môn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 14 tháng 24 ngày tù (được trừ những ngày đã tạm giữ của cả hai bản án); bản án còn tuyên hình phạt với các bị cáo khác; hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 14/7/2017 và ngày 17/7/2017, các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn N và Nguyễn văn D (SN.1982) kháng cáo xin hưởng án treo.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Ngày 12/9/2017, các bị cáo H và N có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo; bị cáo D tự nguyện nộp tiền phạt và tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố, phát biểu luận tội: Đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo D; bị cáo tự nguyện nộp tiền phạt và án phí theo quyết định bản án sơ thẩm, thể hiện sự ăn năn hối cải và xuất trình tài liệu chứng minh bị cáo có bố được tặng thưởng Huân huy chương, là tình tiết giảm nhẹ mới. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt:HĐXX) chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt mức từ hai đến ba tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Văn D (SN.1982) đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng nên căn cứ vào quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 245 Bộ luật tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS), HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
Về nội dung: Lời khai của bị cáo D (SN.1982) tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với các tài liệu khác như biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 15/3/2017, Nguyễn Văn T4 đã dùng nhà ở của mình tại thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương cho các đối tượng Nguyễn Văn H, Lê Xuân V1, Nguyễn Văn D (SN.1985), Nguyễn Văn D (SN.1982), Nguyễn Ngọc Đ, Vũ Văn V2, Nguyễn Văn T1, Trần Văn N, Bùi Văn H và Nguyễn Văn T2 đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Đến khoảng 23 giờ 25 phút cùng ngày thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: Thu tại chiếu bạc: 17.900.000 đồng, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 02 quân vị; thu trong người các đối tượng đánh bạc: 22.270.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 40.170.000 đồng; thu giữ 01 chiếc xe máy BKS:34K6-4601 là tài sản cầm cố để lấy tiền sử dụng đánh bạc. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T không trực tiếp đánh bạc nhưng dùng nhà của mình cho trên 10 người đánh bạc và thu tiền hồ đã cấu thành tội “Gá bạc” theo khoản 1 Điều 249-BLHS; hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Xuân V1, Nguyễn Văn D (SN.1985), Nguyễn Văn D (SN.1982), Nguyễn Ngọc Đ, Vũ Văn V2, Nguyễn Văn T1, Trần Văn N, Bùi Văn H và Nguyễn Văn T2, đã cấu thành tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 BLHS. Nên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và buộc bị cáo T4 phải chịu hình phạt về tội “Gá bạc” , các bị cáo khác về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D (SN.1982), HĐXX thấy:
Nguyễn Văn D tham gia đánh bạc từ đầu đến khi bị bắt với số tiền sử dụng đánh bạc 2000.000 đồng là không nhiều so với các bị cáo khác trong vụ án; sau khi bị bắt, bị cáo đã thành khẩn nhận tội, là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS đã được cấp sơ thẩm áp dụng. Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp tiền phạt và tiến án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm là thể hiện sự ăn năn hối cải; đồng thời xuất trình tài liệu chứng minh bố bị cáo là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân Huy chương. Đó là hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 46 BLHS cấp phúc thẩm áp dụng cho bị cáo được hưởng. Tuy nhiên, bản thân bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi đánh bạc, bị cáo đã chấp hành. Nhưng thời gian để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định tại mục b.9, khoản 1, Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Căn cứ các tình tiết giảm nhẹ mới tại giai đoạn phúc thẩm, HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt tù như đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa, để bị cáo có ý thức cải tạo tốt sớm hòa nhập cộng đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn H, và Trần Văn N kháng cáo, nhưng đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã quyết định đình chỉ xét xử xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 238 BLTTHS.
Án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D (sinh năm 1982), sửa bản án hình sự sơ thẩm số 37/2017/HSST ngày 07/7/2017 của TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53-BLHS, phạt Nguyễn Văn D (sinh năm 1982) 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Ghi nhận bị cáo đã thưc hiện xong tiền phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D (sinh năm 1982) không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án (ngày 18/9/2017)./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - TAND huyện Kinh Môn; - VKSND huyện Kinh Môn; - Chi cục THADS huyện Kinh Môn; - Sở TP tỉnh Hải Dương; - Phòng HSNV – CA tỉnh HD; - Bị cáo; Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Mạnh Cường |