vanban.org

Bản án 797/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 12/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao các bị cáo Đinh Duy D cho Ủy ban nhân dân phường Tây Tựu, quận BTL, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định bu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn hữu M và đb - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao các bị cáo Đinh Duy D cho Ủy ban nhân dân phường Tây Tựu, quận BTL, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- - - *&*- - -

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 797/2022/HS-PT
Ngày: 12.9.2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chử Phương Ngọc.

Thẩm phán:

Bà Đặng Thị Thanh Huyền.

Ông Phan Huy Cương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 12.9.2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 399/2022/TLPT-HS ngày 25 tháng 5 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HSST ngày 12.4.2022 của TAND quận BTL, TP.Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hữu M - Sinh năm: 1981, tại Hà Nội.

ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố Tr 5, phường TT, quận BTL, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: N; Con ông Nguyễn Hữu Sửu và bà Đặng Thị Lưu (chết); Có vợ là Tự Thị V, có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Bản án số 28/HSST ngày 21.01.2011 TAND huyện Từ Liêm xử phạt 10 triệu đồng về tội Đánh bạc; Tiền sự:Không; Nhân thân: Bản án số 236/HSST ngày 27.12.2017 TAND quận BTL xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc; Hiện áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt.

2. Họ và tên: Bùi Trung H - Sinh năm: 1979, tại Hà Nội.

ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố Th 2, phường TT, quận BTL, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lảm ruộng; Trình độ văn hóa: 4/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: N; Con ông Bùi Trung Th (chết) và bà Đỗ Thị D; Vợ là Nguyễn Thị H, có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004;Tiền án, nhân thân: Không; Tiền sự: Ngày 25.02.2021 Công an quận BTL xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua dâm; Hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt.

3. Họ và tên: Đinh Duy D - Sinh năm: 1984, tại Hà Nội.

ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố Th2, phường TT, quận BTL; Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lảm ruộng; Trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: N; Con ông Đinh Duy D (chết) và bà Nguyễn Thị Ch; Vợ là Chu Thị Tr, có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt.

- Ngoài ra còn có các bị cáo khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập đến phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 31.8.2021, Nguyễn Hữu N, Bùi Trung H và Vũ Đình Gi sử dụng lán của N ở cánh đồng Lai và cùng gọi người khác đến đánh bạc.

Khoảng 12 giờ 30 phU cùng ngày, Nguyễn Hữu Th, Chu Thị C, Nguyễn Thị M, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị V, Đào Thị Q, Nguyễn Thị U, Đinh Duy D và Nguyễn Hữu M đến lán của N. D cắt quân vị từ cây bài chắn và dùng bát, đĩa có sẵn tại lán của N để Th, C, M, T, V, Q, D, M đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa. Th cầm cái dùng bát, đĩa rồi để 4 quân vị bên trong xóc cái và quy định bên tay trái Th là lẻ, bên tay phải Th là chẵn, những người chơi sẽ đặt cửa từ 30.000 đồng đến 300.000 đồng, khi Th mở bát nếu 4 quân vị trên đĩa đều là mặt đỏ hoặc đều là mặt chữ hoặc 2 quân vị là mặt đỏ và 2 quân vị là mặt chữ thì là “chẵn”, ai cược tiền vào “lẻ” là thua hết số tiền cược cho Th, ngược lại ai cược tiền vào “chẵn” sẽ thắng và được trả tiền bằng số tiền đã cược. Khi mở bát ra 3 quân vị mặt đỏ 1 quân vị mặt chữ hoặc 3 quân vị mặt chữ 1 quân vị mặt đỏ sẽ là “lẻ” và những người đặt “lẻ” sẽ thắng số tiền bằng số tiền đã đặt cược, còn ai đặt “chẵn” sẽ thua số tiền đặt cho Th.

Khi chơi, H, N, Gi đứng bên ngoài cảnh giới nếu thấy có lực lượng chức năng sẽ báo để các đối tượng bỏ chạy. Các đối tượng vào đánh bạc phải trả từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng cho N để N, Gi, H chia nhau. Ngày 31.8.2021 N thu được 1.000.000 đồng. Nguyễn Thị U ngồi tại lán nếu ai đánh bạc hết tiền thì U cho vay để lấy tiền lãi. U cho M vay 1.000.000 đồng, thỏa thuận tiền lãi 50.000 đồng; cho C vay 500.000 đồng, thỏa thuận tiền lãi 30.000 đồng.

Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 14 giờ 35 phU cùng ngày thì bị bắt quả tang, D, H, M không có mặt tại hiện trường. Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc: 11.690.000 đồng, 4 quân vị, 1 đĩa sứ, 1 bát sứ, 01 kéo, 6 điện thoại di động, 1 xe máy Honda wave KBS 29L5-24206; thu giữ của U 20.000.000 đồng, thu giữ tại cốp xe của N 1.600.000 đồng.

Quá trình điều tra,

- Nguyễn Hữu N khai: Xới bạc được tổ chức tại lán của N khoảng 4 đến 5 lần, N không nhớ cụ thể, không nhớ số tiền đã thu lợi.

- Vũ Đình Gi khai: N, Gi, H cùng cảnh giới cho xới bạc ngày 25, 30, 31.8.2021, không nhớ số tiền được hưởng lợi.

- Nguyễn Hữu Th khai: Có khoảng 300.000 đồng đánh bạc, khi thua hết thì D đưa 500.000 đồng để đánh bạc, khi bắt còn khoảng 1.400.000 đồng.

- Nguyễn Thị M khai: Có 700.000 đồng, vay U 1.000.000 đồng để đánh bạc, khi bắt còn 200.000 đồng.

- Nguyễn Văn T khai: Có 4.000.000 đồng, khi bắt còn 4.000.000 đồng;

- Chu Thị C khai: Có 200.000 đồng, nộp cho U 100.000 đồng, còn 100.000 đồng đánh bạc thua hết, vay U 500.000 đồng đánh bạc tiếp, khi bắt còn 30.000 đồng, 20.000 đồng bị rơi.

- Nguyễn Thị V khai: Có khoảng 1.170.000 đồng đánh bạc, khi bắt có 4.140.000 đồng.

- Đào Thị Q khai: Có 1.910.000đồng đánh bạc, khi bắt còn 1.810.000 đồng.

- Nguyễn Hữu M khai: Có 300.000 đồng đánh bạc, bị thua hết nên đi về trước.

- Đinh Duy D khai: mang theo 21.500.000 đồng, đưa U 20.000.000 đồng để U cho các con bạc vay, cho Th vay 500.000 đồng, còn 1.000.000 đồng đánh bạc thua hết, khi bắt bỏ chạy, sau khi có quyết định truy nã, ngày 16.12.2021 đầu thú.

- Bùi Trung H khai: Cùng N, Gi cảnh giới, khi bắt bỏ chạy, sau khi có quyết định truy nã, ngày 15.12.2021 đầu thú.

- Nguyễn Thị U khai: Có 1.500.000 đồng đã cho M vay 1 triệu đồng, tiền lãi là 50.000 đồng, đã cho C vay 500.000 đồng, tiền lãi là 30.000 đồng, D đưa 20.000.000 đồng để cho vay, khi bắt còn 20.000.000 đồng.

Tại phiên tòa D và U đều khai số tiền 20.000.000đồng D cho U vay để chữa bệnh.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSBTL ngày 20.01.2022, Viện kiểm sát nhân dân quận BTL, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Hữu N, Nguyễn Hữu Th, Vũ Đình Gi, Nguyễn Thị U, Nguyễn Thị M, Chu Thị C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị V, Đào Thị Q, Bùi Trung H, Đinh Duy D và Nguyễn Hữu M đều về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HSST ngày 12.4.2022 của TAND quận BTL, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu M 10 (mười) tháng tù về tội Đánh bạc.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm i - s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Trung H 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm i - s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đinh Duy D 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc.

Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 19.4.2022 Nguyễn Hữu M có đơn kháng cáo kêu oan.

Ngày 25.4.2022 Bùi Trung H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Đinh Duy D có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày:

- Bị cáo M xác định Tòa án sơ thẩm kết tội bị cáo Đánh bạc là đúng người, đúng tội. Bị có tham gia chơi bạc nhưng đã về từ trước, bị cáo có 300.000đồng đánh bạc mà phạt bị cáo 10 tháng tù là nặng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo H trình bày hiện đang là lao động chính chăm sóc mẹ già 86 tuổi, phạm tội lần đầu nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo D trình bày phạm tội lần đầu, là lao động chính nuôi mẹ già, con nhỏ nên đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị HĐXX:

- Về hình thức đơn kháng cáo đúng với quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333, của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đề nghị chấp nhận.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa đủ cơ sở xác định ngày 31.8.2021, tại lán của nhà Nguyễn Hữu N ở cánh đồng Lai, Vũ Đình Gi, Bùi Trung H và N đã cảnh giới cho 09 con bạc chơi xóc đĩa ăn tiền, trong đó có Nguyễn Hữu M, Đinh Duy D. Do số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc là 11.690.000đồng nên Tòa án sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội Đánh bạc là phù hợp.

Đối với bị cáo M phạm tội trong trường hợp tái phạm, bị cáo H nhân thân có 01 tiền sự chưa được xóa, Tòa án sơ thẩm căn cứ vào nhân thân, vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội xử phạt bị cáo M mức 10 tháng tù, bị cáo H 08 là phù hợp. Tại phiên tòa không có tình tiết mới nên không có căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.

Đối với bị cáo D khi biết hành vi sai phạm đã đầu thú khai báo thành khẩn, số tiền đánh bạc không lớn, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường ít nghiêm trọng nên đủ điều kiện cải tạo ngoài xã hội.

Do vậy, đề nghị HĐXX căn cứ Điểm a - b Khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điểm e Khoản 1 Điều 357 – BLTTHS, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo M và bị cáo H, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo D cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 - BLHS, xử phạt: Nguyễn Hữu M 10 (mười) tháng tù về tội Đánh bạc. Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm i - s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 38 - BLHS, xử phạt: Bùi Trung H 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc. Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm i - s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 65 - BLHS, xử phạt: Đinh Duy D 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về thủ tục:

Đơn kháng cáo của các bị cáo đã tuân thủ đúng theo quy định về chủ thể, thủ tục và thời hạn kháng cáo tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét nội dung:

Khoảng 12 giờ ngày 31.8.2021, tại lán nhà của mình ở cánh đồng Lai, phường Tây Tựu, quận BTL, Nguyễn Hữu N đã có hành vi tổ chức cho Nguyễn Hữu Th, Nguyễn Hữu M, Nguyễn Thị U, Nguyễn Thị M, Chu Thị C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị V, Đào Thị Q, Đinh Duy D đánh bạc dưới hình thức đánh “xóc đĩa”, quá trình chơi thì Vũ Đình Gi, Bùi Trung H cùng Nguyễn Hữu N đứng bên ngoài cảnh giới, các đối tượng vào đánh bạc phải nộp cho N từ 100.000 đồng 200.000 đồng, số tiền đánh bạc là 12.690.000 đồng (trong đó có 1.000.000đồng tiền hồ). Do vậy, Tòa án sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 – BLHS là đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Hữu M: Ngày 21.01.2011 bị TAND huyện Từ Liêm xử phạt 10 triệu đồng về tội Đánh bạc, mặc dù ngày 16.11.2021 bị cáo mới nộp tiền phạt và án phí nhưng do số tiền đánh bạc dưới 5 triệu đồng nên bản án này đã xóa theo quy định tại Điểm đ – e Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27.11.2015 của Quốc hội. Ngày 27.12.2017 bị TAND quận BTL xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc, ra trại ngày 25.01.2018, chấp hành xong bản án ngày 01.3.2021 nên bản án đã xóa từ ngày 27.12.2020. Do vậy, Tòa án sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm là không đúng. Tuy nhiên, bị cáo đã 02 lần bị xét xử về tội Đánh bạc nhưng không chịu tu dưỡng, cố tình phạm tội nên Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo 10 tháng tù là phù hợp, tại phiên tòa không có tình tiết gì mới nên không có cơ sở xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Đối với Bùi Trung H: Ngày 25.02.2021 Công an quận BTL xử phạt hành chính về hành vi mua dâm, bị cáo phạm tội khi tiền sự chưa được xóa, xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, có vai trò giúp sức nên mức án 08 tháng tù là có phần nghiêm khắc, do vậy HĐXX áp dụng Điều 54 – BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về gia đình và xã hội.

Đối với Đinh Duy D: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, có vai trò giúp sức, có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo H và D được chấp nhận yêu nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo M không được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định,

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng Điểm a-b Khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điểm c-e Khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bác yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu M, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Bùi Trung H và Đinh Duy D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HSST ngày 12.4.2022 của Toà án nhân dân quận BTL, TP. Hà Nội.

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu M 10 (mười) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

3. Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm i - s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Trung H 05 (năm) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

4. Áp dụng Khoản 1 Điều 321, Điểm i - s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đinh Duy D 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời hạn thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Đinh Duy D cho Ủy ban nhân dân phường Tây Tựu, quận BTL, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của bản án mới.

5. Về án phí án phí hình sự phúc thẩm:

- Các bị cáo Bùi Trung H, Đinh Duy D không phải nộp.

- Bị cáo Nguyễn Hữu M phải nộp 200.000 đồng.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ