- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HNGĐST ÁNH- TUẤN"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Dương Thị Ngọc A
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:797/2022/HNGĐ-ST Ngày: 19-9-2022 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Trường
Bà Châu Bích Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tuyền- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 432/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Ngọc A, sinh năm 1995; (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp TL, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1985; (vắng mặt)
Địa chi: ấp NL, xã TCN, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Dương Thị Ngọc A trình bày:
Chị và anh Võ Văn T kết hôn với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Ly thân từ tháng 2/2021 đến nay.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Về hôn nhân: Cho chị được ly hôn với anh Võ Văn T.
-Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thành N, sinh ngày 19/03/2017. Khi ly hôn chị A yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu N.
-Về cấp dưỡng: Yêu cầu anh Võ Văn T cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
-Về tài sản chung, về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Võ Văn T trình bày:
Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là về vấn đề tiền bạc. Về quan hệ hôn nhân, anh T muốn được hàn gắn lại nên không đồng ý ly hôn. Về con chung: anh T không đồng ý giao con cho chị A mà muốn được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung, về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn xin vắng mặt có bản tự khai giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000đồng/tháng cho đến khi cháu Ngân đủ 18 tuổi. Bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án, đề nghị:
+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Dương Thị Ngọc A.
+ Về con chung: Giao con chung tên Võ Thành N, sinh ngày 19/03/2017 cho chị A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu N.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Dương Thị Ngọc A yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Võ Văn T và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đây là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Võ Văn T có nơi cư trú tại ấp NL, xã TCN, huyện CT, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị A và anh T chung sống trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 13/02/2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống, giữa chị A và anh T xảy ra mâu thuẫn kéo dài, bất đồng quan điểm sống. Giữa chị A và anh T không tự hàn gắn được và dẫn đến việc anh chị đã sống ly thân từ tháng 2 năm 2021 đến nay.
Thấy rằng, giữa chị A và anh T không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa chị A và anh T đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Tại phiên tòa, anh T vắng mặt không rõ lý do. Tại biên bản hòa giải ngày 07/7/2022, anh T muốn hàn gắn lại không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, anh T không nêu được biện pháp hàn gắn tình cảm giữa anh và chị. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị A và anh T có 01 con chung là con chung tên tên Võ Thành N, sinh ngày 19/03/2017.
Tại biên bản hòa giải ngày 07/7/2022, anh T không đồng ý ly hôn, không đồng để con cho chị A nuôi, anh yêu cầu nuôi và không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng: trong thời gian sống ly thân và cho đến nay cháu tên Võ Thành N, sinh ngày 19/03/2017 vẫn đang sống chung với chị A, để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của các cháu nên cần thiết giao cháu tên Võ Thành N, sinh ngày 19/03/2017 cho chị A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu sau này chị A và anh T có thay đổi hoàn cảnh và có tranh chấp về việc nuôi dưỡng con chung sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị A yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con” nên cần buộc anh T là người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Về tài sản chung: Chị A và anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị A và anh T khai không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị A là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn và anh T phải chịu án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Dương Thị Ngọc A
1. Về hôn nhân: Chị Dương Thị Ngọc A được ly hôn với anh Võ Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung tên tên Võ Thành N, sinh ngày 19/03/2017 cho chị A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh T nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đồng/tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày chị A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị A chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0020498 ngày 31/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Anh T phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, chị A, anh T được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - UBND xã Thân Cửu Nghĩa; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Đỗ Thị Hồng Quyên |