- Tranh chấp gì? "Vụ án Nguyễn Thị A +Đp tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? 1 Điều 51 Bộ luật H ình sự đối với các bị cáo
- Căn cứ chính? Điều 25 Bộ luật H ình sự; Điều 1 Bộ luật H ình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng h ình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 79/2021/HS -ST Ngµy: 31 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩ m phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hồ ng
Các Hộ i thẩ m nhân dân:
1. Ông Hoàng Đình Cư ờng
2. Bà Nguyễn Thị Li ên
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Th ư – Thư k ý Tòa án, Toà án nhân dân huyệ n Hà Trung, tỉ nh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Th êm - Kiể m sát viên
Ngày 31 tháng 12 năm 2021 tại Hội tr ư ờng xét xử T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ th ẩ m công khai vụ án h ình sự s ơ th ẩm thụ lý số 58/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyế t định đ ưa v ụ án ra xét xử số 76/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị A ; sinh năm: 1989; tạ i xã H (nay là thị trấn H), huyện H, tỉ nh T; trú tại: tiểu khu T, thị t rấn H , huyện H , tỉnh T; nghề nghiệ p: lao động tự do ; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộ c: Kinh; giới tính: N ữ ; tôn giáo: không; quố c tị ch: Việ t Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Đỗ Thị Ph; có chồng l à Phạm Quốc P và có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Tại bản án số 07/2010/HSST n gày 31/3/2010 của Tòa án huyện H à Trung, tỉ nh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Tại bản án số 22/2012/HSST n gày 11/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 30 tháng tù tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt 27 tháng tù tại bản án số 07/2010/HSST n gày 31/3/2010 của Tòa án huyện H à Trung, tỉ nh Thanh Hóa, bị cáo phải chấp h ành hình phạt chung của hai bản án l à 57 tháng tù.
Bị cáo đ ã chấp h ành xong cả hai bản án ng ày 20/02/2015
Tạ m giữ : Bị cáo bị tạm giữ
từ ng ày 29/01/2021 đến ng ày 07/02/2021.
Tạm giam: không
Bị cáo có mặ t tạ i phiên toà.
2. Nguyễn Văn H 1; sinh năm: 1984; tại xã T, huyện H , tỉnh T ; trú tại: thôn T, xã T, huyện H , tỉnh T ; nghề nghiệp: lao động tự do ; trình độ văn hoá : 12/12; dân tộ c: Kinh; giới tín h: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ô ng Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị L (đều đ ã chết) ; có vợ l à Nguyễn Thị N (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 12/6/2018 Công an huyện H à Trung xử phạt h ành chính 1.500.000 đồng về h ành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp h ành xong quyết định ng ày 12/6/2018.
Tạm giữ , tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ
từ ng ày 19/02/2021 đến ng ày 22/02/2021 chuyển tạm giam cho đến nay .
Bị cáo có mặt tại phi ên toà.
3. Nguyễn Thị Th ; sinh năm: 1992; tại xã H (nay là thị trấn H ), huyện H , tỉnh T ; trú tại: thôn T, xã H, huyện H , tỉnh T ; nghề nghiệp: lao động tự do ; trình độ văn hoá : 12/12; dân tộ c: Kinh; giới tính: Nữ ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ô ng Nguyễn Văn H và bà Đỗ Thị P; có chồng l à Phạm Anh T và có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ , tạm giam : Bị cáo bị tạm giữ
từ ng ày 29/01/2021 đến ng ày 07/02/2021 chuyển tạm giam cho đến nay .
Bị cáo có m ặt tại phi ên toà.
4. Phạm Thị H ; sinh năm: 1991; tại huyện N , tỉnh T ; trú tại: tiểu khu T, thị trấn H , huyện H , tỉnh T ; nghề nghiệp: lao động tự do ; trình độ văn hoá : 12/12; dân tộ c: Kinh; giới tính: Nữ ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ô ng Phạm Hữu V (đã chết) và bà Nguyễn Thị H ; có chồng l à Đỗ Quang C và có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ , tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ
từ ng ày 29/01/2021 đến ng ày 07/02/2021 chuyển tạm giam cho đế n nay.
Bị cáo có mặt tại phi ên toà
5. Trần Văn N ; sinh năm: 1987; tại xã H (nay là xã L), huyện H , tỉnh T ; trú tại: thôn C, xã L, huyện H , tỉnh T ; nghề nghiệp: lao động tự do ; trình độ văn hoá : 9/12; dân tộ c: Kinh; giới tính: N am; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ô ng Trần Văn M và bà Trần Thị T ; có vợ l à Nguyễn Thị L và có 01 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Tại bản án số 29/2009/HSST n gày 28/5/2009 của Tòa án nhân dân thị x ã Tam Điệp, tỉnh Ninh B ình đã xử phạt bị cáo 7.000.000 đồng về tội “Ti êu thụ t ài sản do ng ư ời khác phạm tội m à có”. Bị cáo chấp hành xong bản án ng ày 20/5/2011.
- Tại bản án số 20/2012/HSST n gày 25/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt bị cáo 27 tháng tù về tội “T àng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp h ành xong bản án ngày 29/5/2013.
- Tại bản án số 22/2015/HSST n gày 22/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Đánh bạc” . Bị cáo chấp h ành xong bản án ngày 30/8/2016.
Tạm giữ , tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ
từ ng ày 29/01/2021 đến ng ày 07/02/2021 chuyển tạm giam cho đến nay .
Bị cáo có mặt tại phi ên toà.
6. Nguyễn Khánh T ; sinh ngày: 16/01/2001; tại thị trấn H , huyện H , tỉnh T ; trú tại: tiểu khu 6, thị trấn H , huyện H , tỉnh T ; nghề nghiệp: lao động tự do ; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộ c: Kinh; giới tính: Nam ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con
bà Nguyễn Thị Thanh Th ; có vợ l à Nguyễn Thị Lan A và có 01 con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ , tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ
từ ng ày 29/01/2021 đến ng ày 07/02/2021 chuyển tạm giam cho đến nay .
Bị cáo có mặt tại phi ên toà.
Ngư ời có quyền lợi li
ên quan:
- Anh Vũ Đức Ph ; sinh năm: 1992; nơ i cư tr ú: tiểu khu 6, thị trấn H , huyện H , tỉnh T, có mặt.
- Anh Bùi Văn X; sinh năm: 1987; nơi cư trú: thôn N , xã T, huyện T , tỉnh T , vắng mặt.
Ngư ời l àm chứng:
- Anh Bùi Văn T1; sinh năm: 1981; nơi cư trú: thôn H , xã T, huyện T, tỉnh T , vắng mặt.
- Anh Phạm Anh T 2; sinh năm: 1992; nơi cư trú: thôn
, xã H, huyệ n H, tỉn h T, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L ; sinh năm: 1958; nơi cư trú: khu tập thể T, tiểu khu 3, thị trấn
H, huyệ n H, tỉnh T , vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 40 phút , ngày 29/01/2021, tại khu vực UBND thị trấn H
à Trung, huyện H à Trung, Công an huyện H à Trung đã bắt quả tang Bùi Văn X, sinh năm: 1987 ở T, huyện T , tỉnh T và Bùi Văn T1, sinh năm: 1981 ở T , huyện T , tỉnh T về h ành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” . Thu giữ trên ngư ời X và T1 mỗi ng ư ời một gói nhỏ nghi l à ma túy, đư ợc ni êm phong ký hiệu “vụ B ùi Văn T1” và “vụ B ùi Văn X”; thu giữ 100.000đ (một trăm ngh ìn đồng) trên ngư ời Xứng đ ư ợc ni êm phong ký hiệu tiền B ùi Văn X. Ngay tại chỗ T 1 và X khai nhận hai gói nhỏ Công an thu giữ trên là ma túy cả hai vừa mua của Nguyễn Văn H 1 ngay tại cổng nh à bà L thuộc tiể u khu T, thị trấn H , huyện H , tỉnh T với giá mỗi gói 4 00.000đ (bốn trăm ngh ìn đồng).
Tại bản kết
luận giám định số 715/PC09 ng ày 03/02/2021 của P hòng kỹ thuật h ình sự , Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột m
àu trắng ng à dạng cục vụn trong phong bì niêm phong có ký hiệu “vụ B ùi Văn T1” gửi giám định l à ma túy, có tổng khối l ư ợng 0,032g (không phẩy không ba hai gam) loại: Heroine; Chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn trong phong b ì niêm phong có ký hiệu “vụ B ùi Văn X” gửi giám định l à ma túy, có tổng khối l ư ợng 0,037g (không phẩy không ba bảy gam) loại:
Heroine.
Thông qua lời khai của X và T1, kết hợp với việc nhận tin báo từ quần chún
g nhân dân về việc Nguyễn Văn H 1 đang bán trái phép chất ma túy, Công an huyện H à Trung đã ra Lệnh bắt giữ ng ư ời trong tr ư ờng hợp khẩn cấp đối với
Nguyễn Văn H 1. Quá trình vào bắt Nguyễn Văn H 1 thì có Nguyễn Thị Th đang ngồi cảnh giới phía sau nhà bà L hô hoán “Công an, Công an” nhằm mục đích để H 1, H2 và A ở phía ngo ài cổng biết, đồng thời đã sử dụng một
chiếc liềm dài 39cm, cán bằng gỗ d ài 13cm, lư ỡi liềm bằn g kim loại dài 26cm, dạng liềm cắt cỏ
để chống lại
lực l ư ợng công an , làm cho đồng chí Vũ Đức Ph
cán bộ công an huyện H à Trung bị th ương ở v ùng mặt ngo ài đùi bên trái xư ớc da rớm máu, vết th ương có hư
ớng h ình vòng cung dài 18cm, rộng 0,5 cm. Sau khi nghe Th hô “Công an, công an” thì Phạm Thị H 2 ở p hía ngoài cổng tr ư ớc nh à bà L đã mở cửa cổng để cho Nguyễn Văn H 1 bỏ chạy, ngay sau đó Nguyễn T hị A đã điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 36B7-078.36 chở Hà chạy trốn. Đến ng ày 19/02/2021 Nguyễn Văn H 1 bị bắt theo quyết định truy n ã.
Tiến hành khám xét khẩn cấp và khám nghiệm hiện trường, Công an thu giữ các vật chứng sau:
- Thu ở b ìa cattong màu xanh đỏ, bị rách , cách mép trong tư ờng cổng nhà bà L là 50cm gồm: 01 (một) túi nilong màu đen, bên trong có 59 gói nghi là ma túy đư ợc ni êm phong, ký hiệu M1 . Tại bản Kết luận giám định số 720 ng
ày 04/02/2021 của ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đ ã kết luận số ma túy n ày là Heroine có tổng khối lư ợng 8,887g (tám phẩy tám tám bảy gam) v à Methamphetamine có tổng khối lư ợng 5,172 g (năm phẩy một bảy hai gam). Ngo ài ra còn thu số tiền l à 18.259.000đ (Mư ời tám triệ u hai trăm năm mươi chín nghìn đồng, đư ợc ni êm phong ký hiệu M2 .
- Thu giữ trong lỗ vi ên gạch vồ ở vị trí giáp mép đ ư ờng đi v ào sân nhà phía tây cách mép trong tư ờng của cổng l
à 30cm, 01(một) gói bằng giấy trắng, b
ên trong chứa chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn
, đư ợc ni êm phong ký hiệu M3. Kết luận giám đ ịnh số 720 ng ày 04/02/2021 của P hòng kỹ thuật h ình sự , Công an tỉnh Thanh Hóa đ ã kết luậ n: chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn trong phong b
ì niêm phong ký hiệu M3 l à ma túy, có tổng khối lư ợng 0,110g, loại Heroine.
- Thu giữ ở cổng 01 (một) túi nilong m
àu trắng, b ên trong có 03 (ba) chiếc xilanh đã qua sử dụng, 03 (ba) túi nilong đ ã bị xé r ách, 03 (ba) lọ thủy tinh đựng n
ư ớc cất đ ã bị vỡ phần đầu.
Đư ợc ni êm phong vào phong bì niêm phong ký hiệu M4 ;
- 01 (một) tập giấy ghi nhớ m
àu vàng, mặt tr ên cùng có ghi chữ v à số, đư ợc ni êm phong vào phong bì niêm ký hiệu M5.
- Thu giữ ở hố đ
ư ợc đ ào dư ới đất cách bờ t ư ờng sau nh à chính 40cm, cách bờ tư ờng r ào phía Tây 5m10 một túi nilong m àu đen, bên trong có:
+ 02 (hai) túi nilong màu trắng, b ên trong mỗi túi có 20 (hai m ươi) gói , bên ngoài bọc bằng nilong m àu đen, tiếp đến l à lớp giấy, trong c ùng chứa c hất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn, kích th
ư ớc 2,5x1cm;
+ 02 (hai) túi nilong màu trắng, b ên trong mỗi túi có 30 (ba m ươi) gói b ọc bằng nilong màu đỏ, tiếp đến l à lớp giấy, trong c ùng chứa chất bột m
àu trắng ng à dạng cục vụn, kích th ư ớc 2x1cm ;
+ 01 (một) túi bọc nilong m àu trắng, b ên trong có 10 (mư ời) gói nhỏ bọc bằng
nilong màu trắng, b ên trong mỗi gói đều chứa chất dạng tinh thể m
àu trắng, kích th ư ớc mỗi gói 2x1,5cm ;
+ 10 (mư ời) gói bọc bằng nilong m
àu trắng có viền đỏ, kích th ư ớc 4x6cm, b ên trong mỗi g ói đều chứa chất
bột m àu trắng ng à dạng cục vụn;
+ 01 (một) gói bọc bằng nilong m
àu trắng, kích th ư ớc 4x4cm, b ên trong chứa chất dạng tinh thể m àu trắng ;
+ 01 (một) gói bọc bằng nilong m
àu trắng, b ên trong có chứa 30 (ba m ươi) túi nilong, kích thư ớc 1x1cm, bên trong mỗi túi nilong đều có 01 (một) vi
ên nén hình tròn màu hồng.
Tất cả đ ư ợc ni êm phong vào phong bì niêm phong ký hiệu M6. Tại bản Kết luận
giám định số 720 ng ày 04/02/2021 của P hòng kỹ thuật h ình sự , Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận: Chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn trong phong b ì niêm phong có ký hiệu M6 gửi giám định l à ma túy, có tổng khối l ư ợng 39,338g (ba chín phẩ y ba ba tám gam) loại: Heroine; Chất dạng tinh thể m àu trắng trong phong b ì niêm phong có ký hiệu M6 gửi giám định l à ma túy, có tổng khối l ư ợng 4,101g (bốn phẩy một không một gam) loại: Methaphetamine; 30 viên nén hình tròn, màu hồng trong phong b ì niêm phong ký hiệu M6 gửi giám định l à ma túy có tổng khối l ư ợng 3,027g (ba phẩy không hai bảy gam) loại: Methaphetamine.
- Thu giữ ở hố đ ư ợc phủ đất, cách mép t
ư ờng sau nh à chính 3m70, cách bờ t ư ờng rào phía Tây 5m một túi nilong m àu trắng, b ên trong có:
+ 01 (túi) túi nilong màu trắng, b ên trong có 30 (ba mươi) túi nilong màu tr ắng, kích thư ớc 1x1cm, mỗi túi chứa 01 (một) vi
ên nén hình tròn màu hồng ;
+ 20 (hai mươi) gói b ọc b ên ngoài bằng nilong m àu đen, tiếp đến l à lớp giấy, trong cùng là chất bột m àu trắng ng à dạng c ục vụn, kích thư ớc mỗi gói l à 2,5x1cm;
+ 15 (mư ời lăm) túi nilong m àu trắng, kích th ư ớc 3x3cm, b ên trong chứa chất bột
màu trắng ng à dạng cục vụn. 03 (ba) túi nilong m
àu trắng, kích th ư ớc 6,5x3,5cm, b ên trong chứa chất bột m
àu trắng ng à dạng cục vụn
;
+ 01 (một) túi nilong m àu trắng, kích th ư ớc 6x4cm, b ên trong chứa chất dạng tinh
thể m àu trắng. 01 (một) túi nilong m àu trắ ng, kích thư ớc 4x4cm, b ên trong chứa chất dạng tinh thể m àu trắng.
Tất cả đ ư ợc ni êm phong vào phong bì niêm phong ký hiệu M7. Tại bản Kết luận
giám định số 720 ng ày 04/02/2021 của P hòng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột m àu trắng ngà dạng cục vụn trong phong b ì niêm phong có ký hiệu M7 gửi giám định l à ma túy, có tổng khối l ư ợng 9,956g (chín phẩy chín năm sáu gam) loại: Heroine ; Chất dạng tinh thể m àu trắng trong phong b ì niêm phong có ký hiệu M7 gửi giám định l à ma túy, có tổng kh ối l ư ợng 16,076g (mư ời sáu phẩy không bảy sáu gam) loại: Methamphetamine; 30 viên nén hình tròn, màu hồng trong phong b ì niêm phong ký hiệu M7 gửi giám định l à ma túy có tổng khối l ư ợng 3,065g (ba phẩy không sáu năm gam) loại: Methaphetamine.
- Thu giữ ở h ố đ ư ợc lấp đất, cách mép t ư ờng sau nh à chính 6m20, cách bờ t ư ờng rào phía Tây 3m85 một túi nilong m àu đen, bên trong có:
+ 08 (tám) túi nilong màu trắng có viền đỏ, b ên trong chứa chất bột m
àu trắng ngà dạng cục vụn
;
+ 20 (hai mươi) gói nh ỏ bọc bằng nilon
g màu đen, tiếp đến l à lớp giấy, trong cùng chứa chất bột m
àu trắng ng à dạng cục vụn.
Tất cả đ ư ợc ni êm phong vào phong bì niêm phong ký hiệu M8. Tại bản Kết luận
giám định số 720 ng ày 04/02/2021 của P hòng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn trong phong b
ì niêm phong có ký hiệu M8 gửi giám định l à ma túy, có tổng khối l ư ợng 21,300g (hai một phẩy ba không không gam) loại: Heroine
- Thu giữ cách mép t ư ờng cổng 8cm một điện thoại di động nh
ãn hiệu OPPO m àu đen, kích thư ớc 14x17cm, đây l à điện thoại của Nguyễn Văn H
à để lại khi bỏ chạy. Đ
ư ợc niêm phong vào phong bì niêm phong ký hiệu M9.
- Thu giữ của Phạm Thị H
2 một điện thoại di động Nokia m
àu đen đã qua sử dụng, tiền Việt Nam l à 7.774.000đ (bảy tri ệu bảy trăm bảy bốn ngh ìn đồng) , một túi đeo màu đen và một xe moto, biển kiểm soát
36R3-5519.
- Thu giữ củ a Nguyễ n Thị A: mộ t chiếc điệ n thoạ i Iphone màu vàng gol; mộ t xe moto BKS 36B7-078.36.
- Thu giữ của Nguyễn Thị Th
: 18.950.000đ (mư ời tám triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng); một điện thoại Iphone 12 Promax;
một điện thoại Nokia 105 đ ã cũ v à một túi đeo bằng vải có sọc trắng v
à đen.
- Thu giữ của Trần Văn N
: một điện thoại Iphone m àu vàng; một điện thoại Nokia màu đen đã cũ.
- Thu giữ của Nguyễn Khánh
T: một chiếc xe moto, biển kiểm soát
36B7-053.06, nhãn hiệu HONDA , đã qua sử dụng.
- Thu giữ một chiếc liềm d
ài 39cm, cán bằng gỗ d ài 13cm, lư ỡi liềm bằng kim loại dài 26cm, dạn g liềm cắt cỏ Nguyễn Thị Th
sử dụng tấn công lực l
ư ợng công an .
Tiến h ành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị A
và Nguyễn Thị Th không phát hiện thu giữ đồ vật, t
ài liệu g ì.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận nh ư sau:
Vào khoảng đầu tháng 01 năm 2021, với mục đích mua ma túy về
để bán kiếm lời nên Nguyễn Thị A đã lên huyện Mộc Châu, tỉnh S ơn La mua của một ng ư ời đ àn ông không quen biết một túi ma túy với giá
20.000.000đ (hai mươi tri ệu đồng) . Sau khi mua đư ợc ma túy, A về nh à chia ra làm các gói nhỏ v à mang sang nhà bà Bùi Thị L , sinh năm 1935 ở tiểu khu T, thị trấn H để bán. Để thuận tiện cho hoạt động bán ma túy của m
ình và để cảnh giới,
nhằm tránh sự phát hiện của lực l ư ợng Công an, Nguyễn Thị A
đã thuê ngư ời lắp đặt hệ thống camera theo d
õi, giám sát xung quanh, đồng thời A
đã thuê Nguyễn Vă n H1; Nguyễn Thị Th (em gái A); Trần Văn N (anh rể A ); Nguyễn Khánh T bán ma túy.
Quá trình tổ chức bán ma túy, Nguyễn Thị A phân công nhiệm vụ cụ thể cho
các bị cáo như sau: Nguyễn Văn H 1 trực tiếp đứ
ng bán ma túy ở cổng nh à bà L; Phạm Thị H2 có nhiệm vụ đứng cảnh giới ngo
ài cổng ngay vị trí bán ma túy ; Nguyễn Thị Th đứng cản h giớ i phía sau vư ờn nh à bà L; Trần Văn N đứng cảnh giới ở quán cắt tóc đ
ư ờng vào khu tập thể nh à máy thuốc lá ; Nguyễn Khánh T đi xe mô tô BKS 36B5- 053.06 của A đi dọ c đư ờng đ ê từ ủy ban x ã H cũ ra đến đ ư ờ ng quốc lộ 1A ngay cổng chợ L
để cảnh giới xung quanh. Khi cảnh giới lực l
ư ợng công an th ì các đối t ư ợng li ên lạc với nhau qua điện thoại, thực hiện các cuộc gọi nhóm để thông máy với nhau nhằm
thông báo tình hình kịp thời. Việc tổ chức bán ma túy
, A chia làm hai ca từ 09 giờ đến 12 giờ v
à từ 17 giờ đến 20 giờ h àng ngày, bắt đầu từ đầu tháng 01 năm 2021. Hàng ngày Nguyễn Văn H 1 trực tiếp đứng bán ma túy, mỗi ng ày bán cho khoảng 30 đến 40 ng ư ời, H1 đư ợc A trả công 01 gói ma túy trị giá 400.00đ/ng ày; Phạm Thị H2 đư ợc A trả công 4.000.000đ (bốn triệu đồng)/tháng; Trần Văn N đư ợc A trả công 02 (hai) gói ma túy trị giá 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) / ngày; Nguyễn Khánh T đư ợc A trả công là 4.000.000đ (bốn tr iệu đồng)/tháng, Nguyễn Thị Th
đư ợc A trả 2 đến 3 triệu đồng/ng ày. Các bị cáo chỉ khai nhận khối l ư ợng ma túy 14,238g đư ợc đựng trong các phong b ì niêm phong ký hiệu M1, M3 và số ma túy bán cho T 1, X là của các bị cáo , còn tổ ng khối l ư ợng số ma túy 96,863 gam, Công an thu giữ ngo ài vư ờn đ ư ợc ni êm phong ký hiệu M6, M7, M8 các bị cáo không biết của ai .
Cáo trạ ng số 65/CT-VKSHT ngày 08/10/2021 củ a Việ n kiể m sát nhân dân huyệ n Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” quy định tạ i khoả n a,b,c,p, khoản 2, Điề u 251 Bộ luật h ình sự . Bị cáo Nguyễn Thị Th còn bị truy tố về tội “Chống ng
ư ời thi h ành công vụ” theo khoản 1, Điều 330 Bộ luật hình sự.
Tạ i phiên tòa, các bị cáo thừ a nhậ n hành vi như cáo trạ ng đã truy tố . Đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyệ n Hà Trung giữ nguyên quyế t đị nh truy tố và đề nghị áp dụng điểm a, b, c, p khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H ình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị A
, Nguyễn Văn H 1, Trần Văn N , Phạm Thị H 2, Nguyễn Thị Th , Nguyễn Khánh T ; điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật h
ình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị A
, Nguyễn Thị Th ; điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 1, Điều 330 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thị Th
; khoản 2, Điều 51 Bộ luật h
ình sự đối với Nguyễn Văn H 1, Trần Văn N , Nguyễn Khánh T . Xử phạt Nguyễn Thị
A từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù; xử phạt Nguyễn Thị Th
từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy ” và 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Chống ngư ời thi h ành công vụ ”; xử phạt Nguyễn Văn H
1 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù; xử phạt Trần Văn N
từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng t ù; xử phạt Phạm Thị H 2 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 thán g tù; xử phạt Nguyễn Khánh T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng t ù. Đề nghị áp dụng khoản 5, Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bị cáo Nguyễn Thị A
20.000.000 đồng để nộp ngân sách nh
à nư ớc.
NHẬN ĐỊNH CỦA T
ÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh
ư sau:
[1]. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có khiếu nại về h
ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến hành tố tụng v à cơ quan ti ến h ành tố tụng. Các h ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến h ành tố tụng, c ơ quan ti ến h ành tố tụng đ ã thực hiện đúng với tr
ình tự, thủ tục, thẩm quyền v
à hợp pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng h ình sự.
[2]. Lời kh ai của bị cáo tại phi ên toà phù hợp với lời khai của
các bị cáo ở giai đoạn điề u tra, phù hợp với lời khai của những
ngư ời l àm chứng, ph ù hợp với vật chứng thu giữ đ ư ợc v à bản kết luận giám định, đủ c
ơ s ở khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 01 năm 2021 cho đến ng ày 29/01/2021, tại nh à bà Nguyễn Thị L , sinh năm 1935 ở tiểu khu T, thị trấn H , huyện H , Nguyễn Thị A đã có hành vi tổ ch ức bán trái phép chất ma túy. A đã thuê một số ng ư ời bán ma túy cho A , trong đó Nguyễn Văn H1 giữ vai tr ò trực tiếp đứng bán
ma túy, còn Nguyễn Thị Th , Nguyễn Thị H 2, Nguyễn Khánh T và Trần Văn N đư ợc A phân công làm nhiệm vụ cảnh giới.
Các bị cáo bán ma túy bắt đầu từ
đầu tháng 01 năm 2021. Đến 10 giờ 30 phút ng ày 29/01/2021, Nguyễn Văn H1 bán cho Bùi Văn X 01 gói ma túy, khối lư ợng 0,037g (không phẩy không ba bảy gam) , loại Heroine lấy 400.000đ (bốn trăm ngh ìn đồng), n gay sau đó bán cho Bùi Văn T1 01 gói ma túy, khối lư ợng 0,032 g (không phẩy không ba hai gam) , loại Hero ine lấy 400,000đ ( bốn trăm ngh ìn đồng). Sau khi H 1 bán ma túy cho X và T1 thì Công an huyện H à Trung đã phát hiện v à bắt quả tang đối với T
1, X về h ành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đồng thời t
iến h ành bắt giữ các bị cáo
A, Th, H2, N, T, riêng Nguyễn Văn H1 đã bỏ trốn,
đến ng ày 19/02/2021 bị bắt theo Quyết định truy n
ã. Đối với Nguyễn Thị Th , khi đang làm nhiệm v ụ cảnh giới phía sau nh
à bà L, phát hiện có Công an vào thì đã có hành vi hô to “Công an, công an” và dùng liềm chống trả lại lực l
ư ợng Công an nhằm ngăn cản Công an v ào bắt Nguyễn Văn H 1, giúp cho Nguyễn Văn H 1 chạy trốn n ên Nguyễn Thị Th ngoài phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy c òn có hành vi chống ng ư ời thi h ành công vụ. Các bị cáo tổ chức
bán hai loại ma túy là Heroine và Methaphetamine, nhiều lần cho nhiều ng ư ời với tổng khối l ư ợng ma túy đ ư ợc xác định l à 14,238 gam. Đây là vụ án phạm tội có tổ chức v
ì giữa các bị cáo có sự cấu kết chặt chẽ v à có sự phân côn g vai trò cụ thể. Trong đó , Nguyễn Thị A là giữ vai trò chủ m ư u, chỉ huy và phân công vai trò đồng phạm cho các bị cáo
khác thực hiện h ành vi phạm tội. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H
à Trung truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” quy định tạ i các điểm a,b,c,p, khoản 2, Điề u 251 Bộ luật h ình sự và truy tố Nguyễn Thị Th
thêm về tội “Chống ng
ư ời thi h ành công vụ” theo khoản 1, Điều 330 Bộ luật h
ình sự là đúng ngư ời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo l à nguy hiểm cho x ã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền
quản lý c ủa Nh à nư ớc về các chất ma tuý. Đây l
à loại chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh h ư ởng xấu tới sức khoẻ con ng
ư ời, l à một trong những nguy ên nhân chính gây ra các loại tội phạm v à tệ nạn x ã hội khác. Vì vậy , phải áp dụng h ình phạt nghi êm khắc cách ly các bị cáo khỏi đời sống x
ã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục
các bị cáo, đồng thời để răn đe, ph
òng ngừa chung.
Nguyễn Thị A là ngư ời trực tiếp đi mua ma túy chia th
ành các túi nhỏ , tổ chức việc bán ma túy, phân công nhiệm vụ cụ
thể cho các bị cáo khác nên giữ vai trò cao nhất trong vụ án . Bị cáo cũng l à đối t ư ợng đ ã từng hai lần bị kết án: ngày 31/3/2010 bị Tòa án huyện H à Trung, tỉ nh Thanh Hóa xử 27 tháng t ù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 11/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng t ù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, t ổng hợp h ình phạt chung của hai bản án là 57 tháng tù. Bị cáo đ ã chấp h ành xong bản án ng ày 20/02/2015, tính đến ngày phạm tội bị cáo đ ã đư ợc xóa án tích nhưng đi ều đó cho th ấy bị cáo có nhân thân xấu. Tuy nhi ên, sau khi phạm tội, bị cáo đ ã thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với Cơ quan đi ều tra công an huyện H à Trung trong việc phát hiện một vụ án về ma túy
, đây là những t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h
ình sự theo điểm s, t khoản 1, Điều 51 Bộ luật h ình sự. Cần áp dụng những t
ình tiết n ày để giảm một phần h
ình phạt cho bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Văn H 1, Trần Văn N , Phạm Thị H 2, Nguyễn Thị Th , Nguyễn Khánh T đều là ngư ời thực h ành nên giữ vai tr ò ngang nhau. Trong đó, Nguyễn Văn H 1 trực tiếp đứ
ng bán ma túy ở cổng nh à bà L; Phạm Thị H 2 có nhiệm vụ đứng cảnh giới
ngoài cổng ngay vị trí bán ma túy ; Nguyễn Thị Th đứng cản h giới phía sau v ư ờn nh à bà L; Trần Văn N đứng cảnh giới ở quán cắt tóc đ
ư ờng vào khu tập thể nh à máy thuốc lá; Nguyễn Khánh T đi xe moto dọ c đư ờng đ ê từ ủy ban x ã H cũ ra đến đ ư ờ ng quốc lộ 1A ngay cổng chợ L để cảnh giới xung quanh . Tuy nhiên, Nguyễn Văn H 1 và Trần Văn N là các đối t ư ợng có nhân thân xấu. Ngày 06/6/2018, Nguyễn Văn H 1 bị Công an huyện H à Trung xử phạt h ành chính về h ành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trần Văn N cũng ba lần bị kết án
và đã đư ợc xóa án tích : Ngày 28/5/2009 bị Tòa án nhân dân thị x ã Tam Điệp, t ỉnh Ninh B ình xử phạt 7.000.000 đồng
về tội “Ti êu thụ t ài sản d o ngư ời khác phạm tội m à có”; ngày 25/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 27 tháng t ù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 22/4/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng t ù tội “Đá nh bạc” . Vì vậy, Trầ n Văn N và Nguyễn Văn H 1 phải chịu trách nhiệm h ình sự cao hơn so v ới Phạm Thị H 2, Nguyễn Thị Th , Nguyễn Khánh T . Nguyễn Thị Th ngoài phải chịu trách nhiệm h ình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo c òn phải chịu trách nhiệm h ình sự về hành vi chống ngư ời thi h ành công vụ của m ình. Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đ ã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h
ình sự theo điểm s, khoản 1, Điều
51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Th trư ớc khi phạm tội đ ã tích cực hợp tác với C
ơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung phát hiện một vụ án ma túy l
à tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự theo điểm t, khoản 1, Điều 51 Bộ luật h
ình sự.
Bị cáo Trần Văn N và Nguyễn Khánh T đầu thú, bị cáo Nguyễn Văn H1 có bố m ẹ đều đ ư ợc tặng Huân ch ương kháng chi ến , thuộc tr ư ờng hợp gia đình có công với cách mạng, đây đ ư ợc coi l à những t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h
ình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật h ình sự. Cần áp dụng những t
ình tiết n ày để giảm một phần h
ình phạt cho các bị cáo.
Đối với ng ư ời đ àn ông bán ma túy cho Nguyễn Thị A do A không biết t ên, địa chỉ cụ thể v à không nhớ đặc điểm , vì vậy không có căn cứ để xử lý trách nhiệm h
ình sự . Đối với b à Nguyễn Thị L , bà L đã già yếu , không biết việc Nguyễn Thị A
tổ chức bán trái phép chất ma túy tại nh à mình nên không có căn cứ để xử lý đối với b
à L. Đối với thươn g tích của đồng chí Vũ Đức Ph
- Cán bộ Công an h uyện H à Trung do Nguyễn Thị Th dùng liềm gây n ên, do vết th ương n hẹ n ên đồng chí Ph ư ớc đ ã từ chối việc giám định thương tích.
Đối với B ùi Văn T1, Bùi Văn X do khối l ư ợng ma túy hai đối t ư ợng t àng trữ d ư ới 0,1 gam và cả hai đều ch ưa có ti ền án , tiền sự n ên không đủ căn cứ xử lý về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma tú y”. Cơ quan c ảnh sát điều tra, C ông an huyện H à Trung đã xử phạt vi phạm h ành chính đối với T 1 và X là phù hợp .
Đối với số ma
túy thu giữ ngo ài vư ờn có khối lư ợng l à 96,863g (chín sáu phẩy tám sáu ba gam) gồm Heroine v à Methamphetamine, các bị cáo không thừa nhận, đã hết thời hạn điều tra nh ưng v ẫn ch ưa chứng minh đư ợc ai là ngư ời t àng trữ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện H à Trung đã tách tội T àng trữ trái phép chất ma túy đối với số ma túy n
ày ra thành một vụ án khác để tiếp tục điều tra
làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ l à đúng quy định .
[3]. Về h ình phạt bổ sung: Cần thiết phải phạt Nguyễn Thị A
một kh oản tiền nhất định để nộp ngân sách
nhà nư ớc v à để răn đe ph òng ngừa chung.
[4]. Về bồi th ư ờng: Anh Vũ Đức Ph là cán bộ Công an hu yện H à Trung bị Nguyễn Thị Th dùng liềm gây th ương tích nh ẹ . Tuy nhiên, anh Ph không yêu cầu bị cáo Th phải bồi th ư ờng, n ên miễn xét .
[5]. Về vật chứng:
Đối với số ma túy c
ơ quan đi ều tra thu giữ đ ư ợc ni êm phong ký hiệu M6, M7, M8, sau đó đư ợc đựng chung trong một phong b ì niêm phong ký kiệu T1, cơ quan c ảnh sát điều tra công an huyện H à Trung đã có quyết định tách vụ án n ên sẽ đư ợc xử lý sau. Đối với số ma túy c
ơ quan đi ều tra thu giữ đ ư ợc ni êm phong ký hiệu M1, M3 sau đó đư ợc đựng chung trong một p
hong bì niêm phong, ký hiệu T 2 là số ma túy các bị cáo thực hiện h ành vi mua bán trái phép còn lại sau giám định , đây là vật cấm tàng trữ, l ưu hành nên ph ải tịch thu ti êu huỷ. Đối với số tiền 7.774.
000 đồng , đây là tiền của Phạm Thị H2 tích góp đư ợc m à có, không liên quan đến việc bán ma túy nên trả lại cho bị cáo H2. Đối với chiếc xe moto, biển kiểm soát 36R3-5519, đây là chiếc xe của b à S mẹ chồng H 2 (bà S đã chết) đ ể lại chiếc xe cho vợ chồng H
2 sử dụng làm phương ti ện đi lại , không phục vụ côn g việc cản h giới c ho hoạt động bán ma túy n ên cũng đ ư ợc trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền
18.950.000đ (mư ời tám triệu chín trăm năm m ươi ngh ìn đồng) . thu giữ của Nguy ễn Thị T h và số tiền 18.259.000đ (Mư ời tám triệ u hai trăm năm mươi chín nghìn đồng) thu giữ tại hiện tr
ư ờng, đây là tiền có đ ư ợc từ việc bán ma túy
nên phải tịch thu nộp ngân sách nh à nư ớc. Đối với số tiền 1
00.000 đồng thu của B ùi Văn X, số tiền n ày không liên quan đến việc p hạm tội n ên trả lại cho anh X .
Đối với các t ài sản thu giữ bao gồm: 01 chiếc điện thoại di động nh ãn hiệ u OPPO màu đen của Nguyễn Văn H 1, 01 chiếc điện thoại di động Nokia m àu đen của Phạm Thị H2, 01 chiếc điệ n thoạ i Iphone màu vàng gol và mộ t xe moto biển kiểm soát 36B7-078.36 của Nguyễn Thị A , 01 chiếc điện t hoại Iphone 12 Promax v à một điện thoại Nokia 105 của Nguyễn Thị Th ; 01 chiếc điện thoại Iphone m àu vàng và một điện thoại Nokia màu đen của Trần Văn N ; một xe moto BKS: 36B7 -053.06 thu giữ của Nguyễn Khánh T, đây là các phương ti ện để phạm tội n
ên phải tịch thu nộp ngân sách nh à nư ớc.
Đối với chiếc
túi đeo bằng vải có sọc trắng đen
, Th sử dụng l àm công cụ đựng tiền bán ma túy v à chiếc liềm Th sử dụng l àm công cụ chống ng ư ời thi h ành công vụ, xét không còn giá trị n ên tịch thu ti êu hủy. Đối vớ i chiếc túi màu đen thu của Phạm Thị H2, không liên quan đến việc phạm tội, tuy nhi
ên do không còn giá trị, bị cá o không yêu cầu trả lại n ên phải tịch thu ti êu hủy. Ngoài ra, Cơ quan đi ều tra c òn thu giữ 01 tập giấy ghi nhớ m àu vàng; 01 túi nilong màu trắng, b ên trong túi nilong có ba chiếc xilanh, 03 túi nilong bị xé rách, 03 lọ thủy tinh đựng n
ư ớc cất đ ã bị vỡ phần đầu
, sau khi giám định, xét thấy không c òn giá trị n ên cũng phải tịch thu ti êu hủy.
[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy địn h của pháp luật .
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, b, c, p khoản 2 Điều 25 1, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản
1 Điều 51 Bộ luật H ình sự đối với các bị cáo
Nguyễn Thị A , Nguyễn Văn H 1, Trần Văn N, Phạm Thị H 2, Nguyễn Thị Th , Nguyễn Khánh T. Điểm t khoản 1 Điều 51 B ộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị A
, Nguyễn Thị Th . Điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 1, Điều 330 Bộ luật
hình sự đối với Nguyễn Thị Th
. Khoản 2, Điều 51 Bộ lu ật hình sự đối với Nguyễn Văn H
1, Trần Văn N , Nguyễn Khánh T .
1. Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Thị A , Nguyễn Văn H 1, Trần Văn N , Phạm Thị H 2, Nguyễn Thị Th , Nguyễn Khánh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Nguyễn Thị Th phạm tội “Chống ng
ư ời thi h ành công vụ”
2. Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo
Nguyễn Thị A 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ n gày bắt bị cáo đi thi h ành án và đư ợc trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ (từ ng ày 29/01/2021 đến ng ày 07/02/2021).
Xử phạt bị cáo
Trần Vă n N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l
à ngày 29/01/2021.
Xử phạt bị cáo
Nguyễn Văn H 1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l
à ngày 19/02/2021.
Xử phạt bị cáo
Phạm Thị H 2 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l
à ngày 29/01/2021.
Xử phạt bị cáo
Nguyễn Khánh T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l
à ngày 29/01/2021.
Xử phạt bị cáo
Nguyễn Thị Th 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống ng
ư ời thi h ành công vụ” . Tổng hợp h ình phạt , bị cáo phải chấp h ành hình phạt chung của ha i tội là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l
à ngày 29/01/2021.
3. Về h ình phạt bổ sung: căn cứ khoản 2 Điều 35,
khoản 5 Điều 251 Bộ lu ật h ình sự đối với Nguyễn Thị A
.
Phạt bị cáo Nguyễn Thị A
20.000.000đ (Hai mươi tri ệu đồng) nộp ngân sách nh à nư ớc.
4. Về vật chứng: Căn cứ kho
ản 2, khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng h
ình sự.
4.1. Tịch thu ti êu huỷ:
Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, đựng trong hai phong bì do Phòng kỹ thuật h ình sự, Công a n tỉnh Thanh Hóa phát h ành đư ợc dán kín, ni êm phong (Đặc điểm của hai phong bì niêm phong theo mục 1 v à mục 2 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 thùng catong đư ợc dán kín , niêm phong, bên trong đựng 01 tập giấy ghi nhớ
màu vàng; 01 túi nilong màu trắng, b ên trong túi nilong có ba chiếc xilanh , 03 túi nilong bị xé rách, 03 lọ thủy tinh đựng n
ư ớc cất đ ã bị vỡ phần đầu
(Đặc điểm của
thùng catong niêm phong theo mục 3 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 phong bì đư ợc dán kín , niêm phong, bên trong đựng túi nilong màu đen đư ợc lấy r a từ gói ma túy của B ùi Văn T1 và Bùi Văn X (Đặc điểm của
phong bì niêm phong theo mục 4 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 chiếc l iềm d ài 39cm, cán bằng gỗ d ài 13cm, lư ỡi liềm bằng kim loại d
ài 26cm, dạng liềm cắt cỏ; 01 chiếc túi đeo bằng vải có sọc trắng đen
, đã cũ; 01 túi đeo m àu đen đã cũ ; 01 vỏ hộp cát tông m àu xanh, trên vỏ hộp có chữ adidas.
4.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nư ớ c:
Số tiền 18.950.000đ (mư ời tám triệu chín trăm năm m ươi ngh ìn đồng) do các bị cáo phạm tội m à có và số tiền 18.259.000đ (Mư ời tám triệ u hai trăm năm mươi chín nghìn đồng) thu giữ tại hiện tr
ư ờng .
01 chiếc điện thoại di động nh ãn hiệu OPPO m àu đen của Nguyễn Văn H 1, đư ợc ni êm phong trong một phong b ì (Đặc điểm của
phong bì niêm phong theo mục 5 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 chiếc điện thoại di động nh ãn hiệu Nokia 105 của Nguyễn Thị Th , đư ợc ni êm phong trong một phong b ì (Đặc điểm của
phong bì niêm phong theo mục 6 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự h uyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 chiếc điện thoại
di động Iphone 12 Promax của Nguyễn Thị Th , đư ợc ni êm phong trong một phong b ì (Đặc điểm của
phong bì niêm phong theo mục 7 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện
Hà Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen của Trần Văn N , đư ợc ni êm phong trong một phong b ì (Đặc điểm của
phong bì niêm phong theo mục 8 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 chiếc điện thoại
di động Iphone màu vàng của Trần Văn N , đư ợc ni êm phong trong một phong b ì (Đặc điểm của
phong bì niêm phong theo mục 9 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 chiếc điệ n thoạ i di động Iphone màu vàng gol của Nguyễn Thị A , đư ợc ni êm phong trong một phong b ì (Đặc điểm của phong bì niêm phong theo mục 10 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 chiếc điện thoại di động
Nokia màu đen của Phạm Thị H 2, đư ợ c niêm phong trong một phong b ì (Đặc điểm của
phong bì niêm phong theo mục 11 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 xe moto, biển kiểm soát 3 6B7-078.36 (Đặc điểm của chiếc xe
moto theo mục 13 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
01 xe moto, biển kiểm soát 36B7-053.06 (Đặc điểm của ch iếc xe moto theo mục 14 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
4.3. Trả lại cho Phạm Thị H
2 số tiền 7.774.000đ (bảy triệu bảy trăm bảy
mươi tư nghìn đồng) và chiếc xe moto biển kiểm soát 36R3-5519 (Đặc điểm của chiếc xe moto theo mục 15 của biên bản giao nhận vật chứng giữa C
ơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung và Chi cục Thi h ành án Dân sự huyện H à Trung ngày 30/12/2021).
Trả lại cho Bùi Văn X số tiền 100.000đ (Một trăm ngh ìn đồng) .
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ
luật tố tụng H
ình sự; Điều 6, k hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng
ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Nguyễn Thị A , Nguyễn Văn H 1, Trần Văn N , Phạm Thị H 2, Nguyễn Thị Th , Nguyễn Khánh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự s ơ th ẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ng ày tuyên án. Anh Vũ Đức Ph có quyền kháng cáo bản án phần li ên quan đến quyền v à nghĩa vụ của m ình trong thời hạn 15 ng ày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Văn X có quyền kháng cáo bản án phần li ên quan đến quyền v à nghĩa vụ của m ình trong thời hạn 15 ng ày kể từ n gày nhận đ ư ợc bản án hoặc bản án đ
ư ợc tống đạt hợp lệ
.
Trư ờng hợp bản án đ
ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật Thi h ành án Dân sự th ì ngư ời đư ợc thi h ành án dân sự, ng ư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thoả thuận thi h
ành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguy ện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các Điều 6, 7 , 7a và 9 Luật Thi h ành án Dân sự; thời hiệu thi h
ành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h
ành án Dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện H à Trung; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện H à Trung; - Các bị cáo; - ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li ên quan; - Lưu h ồ s ơ v ụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà Lê Văn Hồng |