- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn X tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 79/2023/HS- ST Ngày: 25/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Như Lữ.
Ông Lường Văn Dũng.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Thào A Sùng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2023/TLST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn X(tên gọi khác: không); sinh năm:1984, tại Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn L, sinh năm 1963 và bà Lường Thị X, sinh năm 1963; Vợ là Lù Thị C, sinh năm 1984. Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Về nhân thân: Bị cáo từng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định số 07/QĐ-TA ngày 3/2/2020 đến ngày 7/9/2021 chấp hành xong về địa phương. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2023 đến ngày 01/4/2023 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Người phiên dịch: Lường Văn Q, sinh năm 1992. Trú tại: Tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ, ngày 08/3/2023, Lò Văn X một mình đi bộ từ nhà sang bản H, xã C, huyện Đ, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, Lò Văn X gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông tên Giàng A S một gói Heroin giá 250.000đ mang về nhà cất giấu không cho ai biết và đã nhiều lần sử dụng. Số ma túy còn lại, X cất giấu trong chăn gấp làm gối ngủ, để ở giường ngủ trong nhà X. Vào Hồi 21 giờ 40 phút ngày 22/3/2023, khi X đang ở nhà thì tổ công tác Công an xã L đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang X đang cất giấu một gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột trắng nghi là Heroine.
Ngày 22/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột trắng thu của Lò Văn X xác định là 0,22 gam, trích 0,13 gam gửi đi giám định. Tại Kết luận giám định số 544/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn X là 0,22 gam, mẫu trích gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra, bị cáo có khai nguồn gốc số ma túy của bị cáo do người đàn ông tên Giàng A S bán cho tại bản H, xã C, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, tuy nhiên do không có thông tin cụ thể nên cơ quan điều tra chưa làm rõ được.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSĐBĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Lò Văn X về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn X từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,09 gam Heroine còn lại sau giám định.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành của bị cáo Lò Văn X bị truy tố:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn X khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: vào ngày 22/3/2023, Lò Văn X có hành vi tàng trữ 0,22 gam Heroine, nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi đó đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c)....Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Xét tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguyên nhân phạm tội là do bị cáo đua đòi bè bạn, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, mặc dù biết rõ hành vi mua tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Chính vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của Bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
- Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh ra và lớn lên tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, từng bị đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc đến thời điểm phạm tội ngày 22/3/2023 bị cáo chưa được xóa tiền sự đều đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, không tu dưỡng bản thân làm tấm gương cho con cái noi theo, là trụ cột trong gia đình, chỗ dựa cho vợ con mà sử dụng trái phép chất ma túy để lại hình ảnh xấu cho gia đình và xã hội. Vì nghiện chất ma túy, bị cáo mua tàng trữ sử dụng mới dẫn đến phạm tội như ngày hôm nay. Bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi đã thực hiện.
Như vậy, phân tích đề xuất về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ cần chấp nhận.
. Về hình phạt :
Hình phạt chính: Từ phân tích tại các mục [1, 2, 3] trên Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập chủ yếu dựa vào lao động sản xuất nông nghiệp ngoài ra không có thu nhập nào khác, nên không có khả năng thi hành án. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đã đề xuất.
Về vật chứng vụ án gồm: 0,09 gam Heroine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí do là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Hội đồng xét xử cần xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo.
Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Quá trình điều tra, bị cáo có khai nguồn gốc số ma túy của bị cáo do người đàn ông tên Giàng A S bán cho tại khu vực bản H, xã C, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, tuy nhiên do không có thông tin cụ thể nên cơ quan điều tra chưa làm rõ được. Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn X ( tên gọi khác: không) phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Lò Văn X01 (một) năm 02 ( hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (23/3/2023).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,09 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định). Vật chứng đã được niên phong bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/6/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/7/2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Nhà tạm giữ CAHĐB; - VKSND H. Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - CQCSĐT CAHĐB; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS HĐB; - Toà án ND tỉnh Điện Biên; - Bộ phận HSNV C.an HĐB; - Lưu hồ sơ vụ án; - Sở tư pháp; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |