- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phong Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - HN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2026/HSST Ngày 30/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - HN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh C
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị T
Ông Đỗ Đắc T1
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến M- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực X – HN
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X – HN tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn L, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực X – HN tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2026/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phong Q; Sinh năm: 1983;
Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKTT: 24 ngách 164/35 HM, phường BM, Thành phố HN.
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Văn hóa: 11/12.
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Họ tên bố: Nguyễn Huy K;
Đã chết.
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thu H; Sinh năm: 1959.
Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai.
Họ tên vợ: Đàm Thị Thu H;
Sinh năm: 1984.
Có 02 con đều sinh năm 2014.
Danh bản và chỉ bản số: 000006032, lập ngày 06/10/2025 tại Trại tạm giam số A - Công an thành phố HN.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Năm 2005, Công an quận HK, HN bắt (tại ngoại) về hành vi Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tiến hành xác minh không có tài liệu lưu trữ.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số A - Công an thành phố HN. Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên khoảng khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/10/2025, Nguyễn Phong Q đi bộ lang thang khu vực ngã ba đường HQV và PVĐ để mua ma túy sử dụng. Tại đây, Q gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, mặc quần áo màu đen, đeo khẩu trang, đi xe máy (Q không rõ Biển kiểm soát). Q hỏi: “có hàng không? Cho em 150.000 đồng” (ý hỏi mua ma túy đá), người đàn ông hiểu ý gật đầu. Q đưa tiền cho người này và nhận lại 01 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng, Q cất giấu vào trong túi áo phía trước bên phải và đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực trước số 6, ngõ 116 TTB, phường NĐ, HN thì bị lực lượng công an kiểm tra. Tại chỗ, Q lấy từ bên trong túi áo bên phải túi nilong chứa ma túy đá giao nộp cho cơ quan công an. Sau đó, lực lượng công an đã lập biên bản, đưa Q cùng tang vật về trụ sở làm rõ.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Phong Q:
- 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 6848 ngày 10/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố HN kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,145 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Phong Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Phong Q, Q khai không rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Q đến địa điểm mua ma túy và tiến hành rà soát camera, nhân chứng nhưng không xác định được. Ngoài lời khai của Q không có tài liệu chứng cứ nào nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Phong Q cần chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực X - HN để xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 221/CT-VKSKVX ngày 12/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - HN quyết định truy tố Nguyễn Phong Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X – HN luận tội: Khẳng định bản cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Phong Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X – HN đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phong Q mức án từ: 39 đến 45 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong bên trong chứa tang vật hoàn trả sau thu mẫu giám định là 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Nguyễn Phong Q, giám định viên cùng cán bộ niêm phong và hình dấu của cơ quan Công an.
Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của bị cáo và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố HN; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - HN trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.
. Tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/10/2025, tại trước số 6, ngõ 116 TTB, phường NĐ, thành phố HN, Nguyễn Phong Q đang tàng trữ trái phép 0,145 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác công an phường NĐ bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Phong Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, bản cáo trạng số: 221/CT-VKSKVX ngày 12/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - HN quyết định truy tố Nguyễn Phong Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm sức khoẻ của con người; hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe, nhận thức được việc sử dụng, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp luật, nhưng do muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân sử dụng ma túy nên bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự;
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” và “ăn năn hối cải”, được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt:
Đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo thực hiện, nguyên nhân, mục đích, động cơ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng:
Hội đồng xét xử chấp nhận về việc xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phong Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
1. Điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Áp dụng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phong Q: 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2025.
2. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong bên trong chứa tang vật hoàn trả sau thu mẫu giám định là 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Nguyễn Phong Q, giám định viên cùng cán bộ niêm phong và hình dấu của cơ quan Công an.
(Chi tiết vật chứng được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng số 181/2026, ngày 14 tháng 01 năm 2026 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố HN với Phòng thi hành án dân sự Khu vực X – HN).
3. Án phí và quyền kháng cáo:
Buộc bị cáo Nguyễn Phong Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Thành phố HN; - VKSND Thành phố HN; - VKSND Khu vực X – HN - Phòng THADS Khu vực X – HN; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Quỳnh C |