- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn C - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? V i u luậ p d ng ội danh h nh phạ :
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Luật Tư pháp người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2026/HSST Ngày 21-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trung Trọng và bà Thào Thị Chứ.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Thu Hà- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Khánh Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Lò Văn C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13 tháng 02 năm 1999 tại xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản X, xã L, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Lan, sinh năm 1976 và bà Quàng Thị Phương, sinh năm 1978; bị cáo có vợ là Vì Thị Hoa (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Tại Quyết định số 94/QĐ-TA ngày ngày 05 tháng 5 năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu (nay là Toà án nhân khu vực 2- Sơn La) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành là 18 (mười tám) tháng (chấp hành xong ngày 03/11/2024); nhân thân: Tại Quyết định số 10/2021/QĐ- TA ngày 22 tháng 02 năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10- thành phố Hà Nội) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành là 22 (hai mươi hai) tháng; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 30 tháng 12 năm 2025. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 15 phút ngày 30/12/2025, Tổ công tác Công an xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Lò Văn H, Lò Văn C có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo Lò Văn H, Lò Văn C khai là Heroine).
Hồi 19 giờ 45 phút ngày 30/12/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La (tổ địa bàn Thuận Châu) đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy m u giám định, kết quả: Số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine bên trong gói nilon màu xanh có khối lượng 0,19 gam. Trích toàn bộ 0,19 gam, ký hiệu HC1 gửi giám định.
Đối với 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được cho vào trong một phong bì, dán kín, mép dán đóng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La để lưu hồ sơ vụ án.
Kết luận giám định số: 176/KL-KTHS ngày 04/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: M u gửi giám định ký hiệu HC1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Hoàn lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cùng ngày 30/12/2025, Công an xã Long Hẹ phối hợp với Trạm y tế xã Long Hẹ tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng nước tiểu đối với Lò Văn C thì phát hiện Lò Văn C dương tính với chất ma túy. Lò Văn C thừa nhận đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine và ma túy tổng hợp bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể ngày 29/12/2025.
Mở rộng điều tra xác định được: Lò Văn C bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày 05/5/2023 theo Quyết định số 94/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu (nay là Toà án nhân khu vực 2- Sơn La), ngày 03/11/2024 Lò Văn C chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lò Văn C là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số: 118/QĐ - UBND ngày 04/11/2024 của Chủ tịch UBND xã É Tòng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La), thời hạn quản lý từ ngày 04/11/2024 đến ngày 04/11/2026.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La (Tổ địa bàn Thuận Châu) đã tiến hành lấy m u nước tiểu của Lò Văn C gửi giám định để xác định chất, loại ma tuý, ký hiệu C1.
Ngày 31/12/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với Lò Văn C, kết quả xác định: Tại mặt trước cánh tay trái có một vết bầm tím dài 4cm, rộng 1cm. Lò Văn C khai nhận là vết tiêm chích ma tuý vào cơ thể ngày 29/12/2025. Ngoài ra C không chích chỗ nào khác.
Kết luận giám định độc chất số: 58/82/26/KLGĐĐC-PYQG, ngày 06/01/2026, Viện pháp y Quốc Gia Bộ Y tế kết luận: M u nước tiểu có tìm thấy Morphin, Amphetamine và Methamphetamine. Ngoài ra không tìm thấy các chất ma túy khác.
Ngày 22/01/2026, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Viện KSND khu vực 2 - Sơn La, mời người chứng kiến, tiến hành xác định hiện trường nơi mà Lò Văn C thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả như sau:
Hiện trường C: Hiện trường đã bị xáo trộn do con người đi lại tác động.
Phía Đông cách 20m là suối thuộc khu vực bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La.
Phía Tây cách đường dân sinh 25m là đường liên bản đi bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La.
Phía Nam là khu vực rừng thuộc bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La.
Phía Bắc là khu vực rừng thuộc bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La.
Hiện trường cụ thể: Tại bụi cây ở khu vực rừng thuộc địa phận bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La được xác định là vị trí Lò Văn C sử dụng trái phép chất ma túy được đánh số là vị trí số (1); theo mép đường bên phải hướng từ bản Nà Muông, bản Hát Lẹ đến vị trí Lò Văn C sử dụng trái phép chất ma túy là 25m, hướng đông là suối thuộc địa phận bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La cách vị trí số (1) nơi Lò Văn C sử dụng trái phép chất ma túy là 20m; Hướng nam và hướng Bắc là khu vực rừng thuộc bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La. Tại vị trí số (1) nơi Lò Văn C sử dụng trái phép chất ma túy có nhiều cây cối, cỏ mọc dại là đường mòn do dân đi nhiều nên hình thành.
Quá trình xác định hiện trường đã tiến hành tìm kiếm đối với 01(một) bơm kim tiêm, 01 (một) lọ nước cất và 01 (một) mảnh nilon màu xanh Lò Văn C sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy quanh bụi cây tại khu rừng thuộc bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La nhưng không tìm thấy. Quá trình xác định hiện trường Cơ quan điều tra đã tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường phù hợp với lời khai của Lò Văn C.
Ngày 22/01/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tiến hành thực nghiệm điều tra để xác định hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn C. Kết quả như sau:
Thực nghiệm động tác, hành động: Lò Văn C ngồi cạnh bụi cây, bóc mở gói nilon chứa ma túy, cắm chích mũi tiêm vào tĩnh mạch rồi đẩy chất ma túy vào cơ thể.
Kết quả thực nghiệm: Lò Văn C ngồi cạnh bụi cây, dung hai tay kéo thanh đẩy của bơm kim tiêm ra, dùng hai tay bóc mở gói nilon chứa ma tuý đổ vào ống bơm kim tiêm, sau đó tay phải bẻ lọ nước cất hút vào trong ống kim tiêm, tay phải cầm bơm kim tiêm cắm chích mũi kim tiêm vào tĩnh mạch trực tiếp vào mặt trước cánh tay trái rồi đẩy chất ma tuý vào trong cơ thể.
Quá trình thực nghiệm, các cảnh thực nghiệm được chụp ảnh, ghi hình ghi nhận lại; vẽ sơ đồ vị trí của Lò Văn C.
Ý kiến của bị can Lò Văn C: Quá trình thực nghiệm điều tra 03 lần, Lò Văn C tự thực hiện các động tác tự nhiên, không bị ép buộc, không có ai hướng d n, chỉ d n và phù hợp với lời khai của Lò Văn C.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Ngày 29/12/2025 Lò Văn C đi bộ một mình từ nhà ở Bản X, xã L, tỉnh Sơn La lên xã Mường É, tỉnh Sơn La mục đích đi tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực xã Mường É, tỉnh Sơn La, C gặp và hỏi mua được của một người nam giới (C không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) 01 (Một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine và ma túy tổng hợp trộn l n với số tiền 100.000₫ (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, C cầm gói ma túy vừa mua được cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ đến khu vực bản, xã L, tỉnh Sơn La tìm chỗ sử dụng ma túy. C đi đến khu vực rừng thuộc bản N, xã L, tỉnh Sơn La, C vào bụi cây lấy gói ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức tự tiêm chích trực tiếp vào cơ thể. C lấy bơm kim tiêm và lọ nước cất đã chuẩn bị từ trước, sau đó tiếp tục lấy gói ma túy ra đổ hết số ma túy có trong túi nilon vào xilanh và hút nước cất vào xi lanh để hòa tan Heroine và ma túy tổng hợp trộn l n, sau đó C dung xilanh tự tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch mặt trước cánh tay trái của C. Sau khi sử dụng ma túy xong, C vứt các công cụ sử dụng ma túy tại bụi cây trong rừng và đi bộ về nhà.
Đến khoảng 13 giờ 00 ngày 30/12/2025, Lò Văn H và Lò Văn C (C là anh trai họ ở cùng nhà với Hạnh) đang ở nhà tại Bản X, xã L, tỉnh Sơn La thì C rủ Hạnh góp tiền đi mua ma túy với mục đích cùng nhau sử dụng. Hạnh đồng ý và đưa cho C số tiền 100.000 đồng để đi mua ma túy, C bỏ ra số tiền 100.000 đồng để góp cùng Hạnh, tổng cộng được 200.000 đồng. Sau đó C và Hạnh đi bộ đến khu vực bản Hát Lẹ, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La với mục đích đi tìm mua ma túy về để cùng nhau sử dụng. Khi C và Hạnh đi đến khu vực bản Hát Lẹ, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La thì gặp và C hỏi mua được của một người nam giới (Hạnh và C không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói bằng nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Hạnh cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái rồi cùng C đi bộ về nhà. Khi Hạnh và C đi về đến khu vực Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.
Tại bản Cáo trạng số: 10/CT- VKS-KV2 ngày 26 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lò Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Sử dụng trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù đến 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Lò Văn C phải chấp hành là: 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2025.
Về vật chứng vụ án: Đã lưu hồ sơ vụ án theo quy định: 01 (một) phong bì có viền xanh đỏ, bên trong có 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu tại hồ sơ vụ án Lò Văn H.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn C.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn C thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Căn cứ xác định tội danh:
Ngày 30/12/2025 bị cáo Lò Văn C đã có hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetymorphine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Nà Muông, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La.
Cùng ngày 30/12/2025, Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Trạm y tế xã Long Hẹ tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng nước tiểu đối với Lò Văn C thì phát hiện Lò Văn C dương tính với chất ma túy. Lò Văn C thừa nhận trong ngày 29/12/2025 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine và loại Methamphetamine, bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể, kết quả tìm thấy chất ma túy trong m u nước tiểu của Lò Văn C tại Kết luận giám định độc chất số 58/82/26/KLGĐĐC-PYQG, ngày 06/01/2026, Viện pháp y Quốc Gia Bộ Y tế kết luận: M u nước tiểu có tìm thấy Morphin, Amphetamine và Methamphetamine. Lò Văn C là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy theo Quyết định số: 118/QĐ - UBND ngày 04/11/2024 của Chủ tịch UBND xã É Tòng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La), thời hạn quản lý từ ngày 04/11/2024 đến ngày 04/11/2026.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 30/02/2025; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh thực nghiệm điều tra; Kết luận giám định số: 176/KL-KTHS ngày 04/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Kết luận giám định độc chất số: 58/82/26/KLGĐĐC-PYQG, ngày 06/01/2026, Viện pháp y Quốc Gia Bộ Y tế; lời khai của Lò Văn H; lời khai của người chứng kiến.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetymorphine với mục đích để sử dụng của bị cáo Lò Văn C đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine và loại Methamphetamine bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể của bị cáo Lò Văn C, bị cáo Lò Văn C là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy đã phạm vào tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Về vai trò đồng phạm: Bị cáo Lò Văn C là người rủ rê, khởi xướng việc đi mua ma túy với mục đích về cùng nhau sử dụng, góp số tiền 100.000 đồng để đi mua ma túy, là người trực tiếp trao đổi mua bán ma túy, Lò Văn H cùng thống nhất ý góp số tiền 100.000 đồng để đi mua ma túy, cùng đi ma túy với bị cáo Lò Văn C. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Lò Văn H. Căn cứ Điều 143 Luật Tư pháp người chưa thành niên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã ra Quyết định tách hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Lò Văn H và hành vi Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn C thành hai vụ án riêng biệt để điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Lò Văn C và Lò Văn H phạm tội với vai trò đồng phạm, do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét vai trò của bi cáo Lò Văn C.
Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn C và Lò Văn H ở C một nhà, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn C khai biết rõ Lò Văn H là người dưới 18 tuổi. Hành vi rủ bị cáo Lò Văn H đi mua ma túy với mục đích để cùng nhau sử dụng của bị cáo Lò Văn C là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lò Văn C quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự đã được xóa.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Lò Văn C không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về vật chứng vụ án:
Đã lưu hồ sơ vụ án theo quy định: 01 (một) phong bì có viền xanh đỏ, bên trong có 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu tại hồ sơ vụ án Lò Văn H. Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giải quyết tại hồ sơ vụ án Lò Văn H là có căn cứ đúng pháp luật.
Đối với công cụ bị cáo Lò Văn C sử dụng trái phép chất ma túy ngày 29 tháng 12 năm 2025, sau khi sử dụng ma túy xong bị cáo vứt bỏ và không nhớ địa điểm cụ thể, do vậy cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với Lò Văn H là người bị cáo Lò Văn C rủ rê góp số tiền 100.000₫ (Một trăm nghìn đồng) để đi mua ma tuý về cùng nhau sử dụng. Quá trình điều tra xác định, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là ngày 30/12/2025 Lò Văn H mới 16 tuổi 07 tháng là người chưa thành niên (Là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi). Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Lò Văn H. Căn cứ Điều 143 Luật Tư pháp người chưa thành niên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã ra Quyết định tách hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Lò Văn H và hành vi Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn C thành hai vụ án riêng biệt để điều tra là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lò Văn C khai đi cùng mua cùng Lò Văn H mua của một người nam giới (Hạnh và C không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) tại khu vực đến bản Hát Lẹ, xã Long Hẹ, tỉnh Sơn La vào ngày 30/12/2025. Ngoài lời khai của bị cáo Lò Văn C và Lò Văn H ra không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Lò Văn C phải chịu trách nhiệm toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo Lò Văn C sử dụng trái phép chất ma túy ngày 29/12/2025, bị cáo khai mua của một nam giới không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực xã Mường É, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, Cơ quan CSĐT công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để xử lý đối với nam giới trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Lò Văn C là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn C.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. V i u luậ p d ng ội danh h nh phạ :
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn C 02 (hai) năm tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Lò Văn C phải chấp hành là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. V n ph : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn C.
3. V quy n kh ng c o: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2- Sơn La (02 bản); - Công an tỉnh Sơn La; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Sơn La; - Trại tạm giam; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |