- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Q - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2026/HS-ST Ngày 20 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hữu Ý.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Hằng và bà Bùi Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Ninh Bình; xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2026/TLST-HS ngày 13/4/2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2026/QĐXXST-HS ngày 06/5/2026 đối với bị cáo:
Trần Văn Q, sinh năm 1992; Căn cước công dân số 0370920030xx; cấp ngày 12/3/2025; nơi cấp: Cục C1; nơi cư trú xóm B Đ, xã Q, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T(đã chết) và bà Lại Thị V; có vợ là Phạm Thị H(đã ly hôn năm 2021) và có 01 con; tiền án: không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0800722 ngày 19/6/2023 của Công an xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy"; nhân thân: Bản án số 59/2014/HSST ngày 24/3/2014 của Tòa án nhân dân Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù và 200.000 đồng án phí về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong án phí ngày 13/10/2014, chấp hành xong hình phạt tù 04/02/2016. Bản án số 11/2021/HSST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù và 200.000 đồng án phí về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong án phí ngày 15/3/2021, chấp hành xong hình phạt tù 13/11/2021; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2026 đến ngày 19/01/2026 chuyển tạm giam tại trại tạm giam số 01, Công an tỉnh N cho đến nay; có mặt.
Người làm chứng: Anh Trần Văn T1 và anh Nguyễn Văn T2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Q là người đang điều trị cai nghiện ma túy bằng thuốc thay thế Methadone từ ngày 01/12/2022 tại Trung tâm y tế K (nay là Trạm y tế xã P, tỉnh Ninh Bình). Sáng ngày 10/01/2026, Q đi bộ từ nhà đến khu vực đường vành đai gần ngã tư Q thuộc xã K, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Q gặp, hỏi và mua được của một người đàn ông không quen biết 06 gói ma túy với giá 700.000 đồng, Q cầm số ma tuý mua được trong lòng bàn tay phải, nhờ xe của người đi đường để tìm nơi sử dụng. Đến 09 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn đường vành đai thuộc xóm G, xã Đ, tỉnh Ninh Bình, Q xuống xe, định mở các gói ma túy ra để kiểm tra thì bị Tổ công tác của Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang; thu giữ trên tay phải của Q 06 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy sách in có chữ (ký hiệu QT).
Tiến hành mở niêm phong các gói nhỏ thu giữ của Q bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, gói thứ nhất có khối lượng 0,1851 gam, ký hiệu M1; gói thứ hai có khối lượng 0,0908 gam ký hiệu M2; gói thứ ba có khối lượng 0,0831 gam ký hiệu M3; gói thứ tư có khối lượng 0,0737 gam ký hiệu M4; gói thứ năm có khối lượng 0,0680 gam ký hiệu M5; gói thứ sáu có khối lượng 0,0859 gam ký hiệu M6 để trưng cầu giám định.
Tại kết luận giám định số 622/KL-KTHS ngày 16/01/2026 của phòng KTHS
- Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M6 có khối lượng là: M1 là 0,1851 gam; M2 là 0,0908 gam; M3 là 0,0831 gam; M4 là 0,0737 gam; M5 là 0,0680 gam; M6 là 0,0859 gam. Tổng khối lượng các mẫu có ký hiệu từ M1 đến M6 là 0,5866 gam đều là ma túy, loại Heroine.
Tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với Q. Tại kết luận giám định số 621/KL-KTHS ngày 16/01/2026 của phòng K1 - Công an tỉnh N kết luận: Tìm thấy M trong mẫu nước tiểu của Trần Văn Q.
Bản Cáo trạng số 31/CT-VKS-KV4 ngày 10/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Ninh Bình truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án; tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 39(ba mươi chín) tháng đến 42(bốn mươi hai) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 622 bên trong có vật hoàn trả sau giám định: ký hiệu M1=0,1165 gam, M2=0,0350 gam, M3=0,0320 gam, M4=0,0326 gam, M5=0,0170 gam, M6=0,0317 gam đều là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì ký hiệu A bên trong có 06 mảnh giấy sách in có chữ và phong bì khi thu giữ vật chứng của bị cáo.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và bào chữa. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bản tự khai và tại phiên tòa; phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Hồi 09 giờ ngày 10/01/2026, tại khu vực đường vành đai thuộc xóm G, xã Đ, tỉnh Ninh Bình, Trần Văn Q có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,5866 gam ma tuý loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của Trần Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, M1, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm tới các chính sách, quy định của nhà nước trong việc quản lý, cất giữ chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" và nhân thân bị cáo đã hai lần bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo; đồng thời đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo phạm tội không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực đường vành đai gần ngã tư Q, thuộc xã K, tỉnh Ninh Bình, nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh N không đủ căn cứ để xử lý người đã bán ma tuý cho bị cáo.
Qúa trình điều tra xác định bị cáo đang điều trị cai nghiện ma túy bằng thuốc thay thế Methadone từ ngày 01/12/2022 tại Trung tâm y tế K (nay là Trạm y tế xã P, tỉnh Ninh Bình). Tại kết luận giám định số 621/KL-KTHS ngày 16/01/2026 của phòng K1 - Công an tỉnh N kết luận: Tìm thấy M trong mẫu nước tiểu của bị cáo Trần Văn Q; nên không đủ căn cứ để xử lý bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”quy định tại điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong ghi số 622, trong có mẫu vật hoàn trả sau giám định: ký hiệu M1=0,1165 gam, M2=0,0350 gam, M3=0,0320 gam, M4=0,0326 gam, M5=0,0170 gam, M6=0,0317 gam đều là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì ký hiệu A bên trong có 06 mảnh giấy sách in có chữ và phong bì khi thu giữ vật chứng của bị cáo; đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, vật không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, nộp án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 40(bốn mươi) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/01/2026.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 622 trong có vật hoàn trả sau giám định: ký hiệu M1=0,1165 gam, M2=0,0350 gam, M3=0,0320 gam, M4=0,0326 gam, M5=0,0170 gam, M6=0,0317 gam đều là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì ký hiệu A bên trong có 06 mảnh giấy sách in có chữ và phong bì khi thu giữ vật chứng của bị cáo(Vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/4/2026 giữa Cơ quan Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, Ninh Bình).
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình. - VKSND tỉnh Ninh Bình. - VKSND khu vực 4. - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình. - Bị cáo. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan Hữu Ý |