- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Thu H ly hôn anh Chu Anh T."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thu H được ly hôn anh Chu Anh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2026/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2026 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai Linh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Đại
Ông Nguyễn Hữu Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2026/TLST – HNGĐ, ngày 19 tháng 5 năm 2026, về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/7/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 2000.
Trú tại: Thôn A (Khu G cũ), xã H, tỉnh Phú Thọ;
- Bị đơn: Anh Chu Anh T, sinh năm 1995.
Trú tại: Thôn A (Khu G cũ), xã H, tỉnh Phú Thọ
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại: Đ, phân trại số A, Trại giam H1 - Cục C - Bộ C1.
(Chị H có mặt. Anh T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Nguyễn Thu H trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện của mình như sau:
Chị và anh Chu Anh T có đăng ký kết hôn vào ngày 16/5/2018 tại UBND xã Ấ, nay là xã H, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn, anh chị chung sống tại địa phương. Vợ chồng sống hoà thuận được một năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung và bất đồng quan điểm sống nên đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm nhau. Đến đầu năm 2024, anh T phạm tội và phải đi chấp hành án phạt tù tại đội 9, phân trại số A, Trại giam H1 - Cục C - Bộ C1. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị và anh Chu Anh T có 01 con chung là Chu Thanh P, sinh ngày 20/5/2019. Hiện cháu đang ở với chị. Sau ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn là anh Chu Anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do anh đang phải chấp hành án và cũng đã có bản tự khai. Nội dung bản tự khai của anh T thể hiện: Về thời gian, quá trình đăng ký kết hôn như chị H trình bày nêu trên là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Đến năm 2024, anh đã vi phạm pháp luật và Tòa án đã xét xử về tội “ Cố ý gây thương tích”. Hiện nay, anh đang chấp hành hình phạt tù tại đội 9, phân trại số A, Trại giam H1 - Cục C - Bộ C1. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung như chị H trình bày nêu trên là đúng. Hiện nay, con chung đang ở với chị H. Sau ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con cho anh.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
3. Ý kiến của con chung: Con chung là Chu Thanh P, sinh ngày 20/5/2019 có nguyện vọng xin ở với mẹ là chị Nguyễn Thu H.
4. Quá trình làm việc và xác minh tại chính quyền địa phương xác nhận tình trạng hôn nhân như chị H trình bày. Anh chị hiện đã sống ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm yêu thương nhau. Nay chị H xin ly hôn và đề nghị giải quyết về con chung, quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, xác định:
- Về tố tụng dân sự: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thu H được ly hôn anh Chu Anh T.
+ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thu H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Chu Thanh P, sinh ngày 20/5/2019. Anh Chu Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị H.
+ Về tài sản chung, vay nợ chung và công sức đóng góp: Không giải quyết.
+ Về án phí: Chị Nguyễn Thu H phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng dân sự:
Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và nơi cư trú của bị đơn anh Chu Anh T là tại xã H, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu H và anh Chu Anh T đăng ký kết hôn vào ngày 16/5/2018 tại UBND xã Ấ, nay là xã H, tỉnh Phú Thọ. Khi kết hôn hai bên tự nguyện, không bị ép buộc. Như vậy, hôn nhân giữa chị H và anh T đảm bảo các điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên đó là hôn nhân hợp pháp. Lời trình bày của chị H, anh T, xác minh tại nơi cư trú của anh T và các chứng cứ thu thập được cho thấy trong quá trình chung sống, chị H và anh T có xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân, không còn chung sống cùng nhau nhiều năm nay. Từ khi vợ chồng sống ly thân, anh chị cũng không có biện pháp nào để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Đến năm 2024, anh T đã vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành hình phạt tù tại đội 9, phân trại số 1, trại giam H - Cục C - Bộ C1. Điều đó chứng tỏ tình trạng mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Việc chị H xin ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Thu H và anh Chu Anh T có 01 con chung là Chu Thanh P, sinh ngày 20/5/2019, hiện cháu P đang ở với chị H. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H có chỗ ở, thu nhập ổn định. Từ khi vợ chồng ly thân, cháu P chủ yếu được trực tiếp chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo sinh hoạt, ăn học đầy đủ. Anh T hiện đang chấp hành án nên không thể trực tiếp nuôi con, đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt cho cháu. Nguyện vọng của cháu P cũng muốn được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung, tránh xáo trộn cuộc sống ổn định của cháu, cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu P là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên cần chấp nhận, không buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. [2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thu H không đề nghị nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thu H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thu H được ly hôn anh Chu Anh T.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thu H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Chu Thanh P, sinh ngày 20/5/2019. Anh Chu Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị H. Anh chị có quyền thăm nom, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp: Không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thu H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004534 ngày 18/5/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị H đã nộp đủ án phí.
Chị Nguyễn Thu H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Chu Anh T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 5; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Phòng THADS khu vực 5; - UBND xã Hạ Hoà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Mai Linh |