vanban.org

Bản án 79/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 01/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST
Ngày 01-3-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Nguyễn Thị Yên.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Thiết - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 01/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST- HS ngày 19/02/2023 đối với bị cáo:

Lò Văn B, sinh năm 1976 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam: tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn T và bà Hoàng Thị S (Đều đã chết); bị cáo vợ là Hoàng Thị C và có 01 con; tiền án: Không.

Tiền sự: Quyết định số 216 ngày 11/9/2023 UBND xã C áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 03 tháng. Chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính ngày 12/12/2023 (Chưa được xóa tiền sự).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08h30’ ngày 02/01/2024, tổ công tác Công an xã C, huyện M, tỉnh Sơn La phối hợp với Đồn Biên phòng Cửa khẩu Lóng Sập làm nhiệm vụ tại bản Tòng, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, tiến hành kiểm tra đối với Lò Văn B. Qua kiểm tra, B tự giác lấy từ trong túi áo khoác phía trong đang mặc ra 01 gói nilon màu xanh, bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là ma túy loại Heroine và 01 gói nilon màu xanh đựng 01 viên nén màu hồng, trên bề mặt có ký hiệu WY nghi là ma túy loại Methamphetamine. Lò Văn B nhận đó là ma túy của Báu cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Lò Văn B, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Lò Văn B bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, làm rõ.

Ngày 02/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành xác định khối lượng nghi là ma túy thu giữ của Lò Văn B: Khối lượng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine được 0,36 gam, lấy toàn bộ 0,36 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu B1; Khối lượng 01 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine được 0,09 gam, lấy toàn bộ 0,09 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu B2.

Tại Kết luận giám định số 221 ngày 04/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Mẫu ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine(Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,36 gam.

Mẫu ký hiệu B2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 0,36 gam, loại Heroine(Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; 0,09 gam, loại Methamphetamine.”.

Quá trình điều tra Lò Văn B khai nhận: Bản thân nghiện chất ma tuý. Khoảng 11h ngày 31/12/2023, B đi làm nương tại bản T, xã Ca, huyện M thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết, qua trao đổi B đã hỏi và mua được của người đàn ông 01 gói Heroine và 01 viên Hồng phiến đều được gói bằng các mảnh nilon màu xanh với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, B cất giấu ma túy vào túi áo khoác đang mặc rồi đi về. Ngày 01/01/2024, B lấy gói Heroine lấy một ít sử dụng, số còn lại B gói lại như cũ rồi cất vào túi áo khoác bên trong bên trái. Đến khoảng 8h30’ ngày 02/01/2024, B mặc chiếc áo khoác cất giấu số ma túy đi làm nương. Trên đường đi thì gặp tổ công tác Công an xã C, huyện M, tỉnh Sơn La phối hợp với Đồn biên phòng Cửa khẩu L đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT- VKS ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị can Lò Văn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lò Văn B phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Lò Văn B từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại vụ Lò Văn B bắt ngày 02/01/2024 (đựng 02 mảnh ni lon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu)’’ và 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: Test thử ma túy Lò Văn B, kết quả: Dương tính.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn B.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ ] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng vào ngày 31/12/2023, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan điều tra.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ quy định tại Điều 4, Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng các chất ma túy Heroine và Methamphetamine Lò Văn B phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,09 gam Methamphetamine + 0,36 gam Heroine = 0,45 gam.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do nghiện ma túy nên ngày 02/01/2024 bị cáo Lò Văn B đã có hành vi tàng trữ 0,09 gam Methamphetamine và 0,36 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy và có 01 tiền sự. Tại Quyết định số 216/QĐ-XPTT ngày 11/9/2023 của UBND xã C, huyện M áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đối với Lò Văn B với thời hạn 03 tháng, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo không có tài sản gì có giá trị, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.

[ ] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại vụ Lò Văn B bắt ngày 02/01/2024 (đựng 02 mảnh ni lon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu)’’ và 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: Test thử ma túy Lò Văn B, kết quả: Dương tính. Xét thấy, đây là những vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[ ] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Lò Văn B như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

[ ] Về án phí: Bị cáo Lò Văn B là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn B 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 02/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại vụ Lò Văn B bắt ngày 02/01/2024 (đựng 02 mảnh ni lon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu)’’ và 01 (một) chiếc phong bì thư có ghi dòng chữ: Test thử ma túy Lò Văn B, kết quả: Dương tính.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn B.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ