vanban.org

Bản án 79/2024/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 12/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc C 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/12/2024). Giao bị cáo Trần Ngọc C cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Châu - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST
Ngày 12-12-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoà;

2. Ông Nguyễn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 2618/2024/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Ngọc C, sinh ngày 12 tháng 03 năm 1987 tại huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi ĐKHKTT: Ấp B, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: 51H Đ, xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc S và bà Đoàn Thị D; vợ, con: Chưa; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt.

Bị hại:

1.Công ty TNHH TM & XH tổng hợp T.

Địa chỉ: Thôn Kiều An, xã Cát Tân, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn An T, sinh năm: 1974 – Giám đốc; Trú tại: Thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (Có mặt).

2. Công ty TNHH V.

Địa chỉ: Số 134 đường N, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.

- Người đại diện theo pháp luật: Trần Kim T, sinh năm 1959 – Giám đốc (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa ĐKHKTT: Số 15 T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện nay: Số 136 đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Bình Định, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Cổ phần giao nhận hàng hoá HTC.

Địa chỉ: Số 10 O, phường 2, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Xuân T, sinh năm: 1981 – Tổng giám đốc; Trú tại: 656/88/20 Q, phường 01, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Anh Dương Tuấn S, sinh năm 1997; Trú tại: Số 618 đường N, phường Quang Trung, thành phố Q, tỉnh Bình Định (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Anh Nguyễn Bảo T, sinh năm: 1983 trú tại: Số 21 T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng:

1. Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1998; trú tại: Số 40 đường T, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định (vắng mặt).

2. Phạm Hoàng L, sinh năm: 2000; nơi ĐKHKTT: Khu phố 8, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nơi ở hiện nay: Ấp X, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

3. Vũ Thành D, sinh năm: 1998; nơi ĐKHKTT: Thôn 2, thị trấn A, huyện AA, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện nay: Chung cư Ecolife Riverside, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

4. Nguyễn Trần Nhật T, sinh năm: 1999; nơi ĐKHKTT: Khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nơi ở hiện nay: Số 01 T, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (vắng mặt).

5. Đinh Thị Duy N, sinh năm: 1960; trú tại: Số 136 đường N, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/5/2024, Nguyễn Bảo T (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô con biển số 77A-034.00 chạy theo hướng Nam - Bắc trên Quốc lộ 1A, đến đoạn đường thuộc thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định với tốc độ khoảng 50 km/h trên làn đường dành cho xe cơ giới sát dải phân cách, phía sau xe ô tô con biển số 77A-279.76 do Dương Tuấn S (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển lưu thông cùng chiều, cùng làn đường với T, khoảng cách giữa hai xe khoảng 15-20 mét. Khi xuống dốc, S bật đèn xi nhan bên trái và giảm dần tốc độ để quay đầu S chiều đường có hướng lưu thông Bắc - Nam tại đoạn mở dải phân cách, T cũng giảm tốc độ và vẫn chạy phía sau xe S. Khi đến đoạn mở dải phân cách, S tiếp tục giảm tốc độ còn khoảng 10 km/h, bắt đầu đánh lái S trái đi vào đoạn mở dải phân cách thì T giảm tốc độ còn khoảng 5 km/h và giữ khoảng cách với xe S khoảng 4-5 mét. Ngay lúc này, bị cáo Trần Ngọc C (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải biển số 50H-237.57 chạy với tốc độ gần 50 km/h, cùng chiều, cùng làn đường với hai xe ô tô con, phía sau xe ô tô con biển số 77A-034.00 khoảng hơn 10 mét, quan sát thấy hai xe phía trước giảm tốc độ thì bị cáo cũng đạp phanh giảm tốc độ còn khoảng hơn 25 km/h và đánh lái S trái nhưng do khoảng cách không đảm bảo an toàn nên phần phía trước đầu xe ô tô tải va chạm mạnh vào đuôi xe của T và đẩy xe T chạy về trước, phần bên trái đầu xe T tiếp tục va chạm vào phần bên phải đuôi xe của S. Sau khi va chạm, xe S dừng lại trong đoạn mở dải phân cách, xe ô tô tải dừng trên làn đường dành cho xe cơ giới sát dải phân cách, còn xe T thì chạy lên phía trước xe S và dừng gần vạch sơn trắng đứt quãng giữa làn đường dành cho xe cơ giới. Hậu quả: Cả ba xe ô tô đều bị hư hỏng.

Kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo Trần Ngọc C, Nguyễn Bảo T, Dương Tuấn S là 0,000 mg/L, âm tính với chất ma tuý.

Vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ:

- Xe ô tô tải biển số 50H-237.57, giấy biên nhận thế chấp, giấy chứng nhận đăng ký xe (phô tô), giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô tải biển số 50H-237.57, 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Ngọc C.

- Xe ô tô con biển số 77A-279.76, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô con biển số77A-279.76, 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Tuấn Hùng.

- Xe ô tô con biển số 77A-034.00, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô con biển số 77A-034.00, 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Bảo T.

- Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Dương Tuấn S.

- 01 USB bằng nhựa màu đỏ, có nắp xoay bằng kim loại màu bạc nhãn hiệu Kingston”, dung lượng 08GB, tên “LUYỆN GÕ BÀN PHÍM MÁY TÍNH”, lưu trữ 01file video MP4 có tên “5490350155638, dung lượng 773MB, thời lượng 01 phút Tch xuất từ camera giám sát hành trình phía sau xe ô tô biển số 77A-279.76.

- 01 USB vỏ bằng kim loại màu bạc, nhãn hiệu Kingston”, dung lượng 01GB, lưu trữ 01file video có tên “5490350135786”, dung lượng 7,64MB, thời lượng 01 phút và 01file video có tên “5540189557784”, dung lượng 5,51MB, thời lượng 22 giây Tch xuất từ camera giám sát hành trình phía trước xe ô tô biển số 77A-279.76.

Xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại xe ô tô tải biển số 50H-237.57 và giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cho Nguyễn Hà P; trả lại xe ô tô con biển số 77A-279.76, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cho Nguyễn An T, trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2 cho Nguyễn Tuấn H; trả lại xe ô tô con biển số 77A-034.00, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe cho Trần Kim T, trả lại giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Bảo T; giấy phép lái xe hạng B2 cho Dương Tuấn S

Ngày 30/7/2024, Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Định có bản kết luận giám định số 302/KL-KTHS kết luận không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định trích xuất từ camera giám sát hành trình của xe ô tô khách biển số 77A-279.76.

Ngày 09/7/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện có bản kết luận định giá tài sản số 22/KL - HĐĐGTS kết luận: tổng giá trị tài sản thiệt hại của xe ô tô con biển số 77A-279.76 là 52.914.000 đồng, xe ô tô con biển số 77A-034.00 là 177.029.000 đồng.

Phần dân sự: Bị cáo Trần Ngọc C và chủ xe ô tô tải biển số 50H-237.57 đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại giải quyết xong phần dân sự của xe ô tô con biển số 77A-279.76 và xe ô tô con biển số 77A-034.00.

Cáo trạng số 71/CT-VKS-PM, ngày 14 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Trần Ngọc C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Ngọc C phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Ngọc C từ 12 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và có ấn định thời gian thử thách.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Trần Ngọc C cùng với chủ xe ô tô tải biển số 50H – 237.57 đã bồi thường thiệt hại cho chủ xe ô tô biển số 77A – 279.76 số tiền 45.000.000 đồng và chủ xe ô tô biển số 77A – 034.00 số tiền 206.317.140 đồng xong, nên không xét. Chủ xe ô tô biển số 77A – 279.76 và chủ xe ô tô biển số 77A – 034.00 đã làm đơn bãi nại trách nhiệm dân sự, đơn xin giảm nhẹ hình phạt và miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại xe ô tô tải biển số 50H-237.57 và giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cho Nguyễn Hà P; trả lại xe ô tô con biển số 77A-279.76, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cho Nguyễn An T, trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2 cho Nguyễn Tuấn H; trả lại xe ô tô con biển số 77A-034.00, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe cho Trần Kim T, trả lại giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Bảo T; giấy phép lái xe hạng B2 cho Dương Tuấn S xong, nên không xét.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa,

Không ai có ý kiến tranh luận gì đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Trần Ngọc C nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi các bị hại; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

ơ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Ngọc C không tranh luận gì với Kiểm sát viên và cũng không đưa ra chứng cứ nào để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình mà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ án, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, do đó Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/5/2024 tại quốc lộ 1A đến đoạn đường thuộc thôn Đ, xã M huyện P, tỉnh Bình Định. Bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 50H – 237.57 chạy theo hướng Nam – Bắc do chủ quan, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước khi xe phía trước giảm tốc độ dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông với xe ô tô 77A – 034.00 do Nguyễn Bảo T điều khiển, đẩy xe ô tô này và chạm với xe ô tô 77A – 279.76 do Dương Tuấn S điều khiển phía trước cùng chiều đang đánh lái S trái để quay đầu xe. Hậu quả làm thiệt hại tài sản xe ô tô biển số 77A – 034.00 là 177.029.000 đồng, thiệt hại tài sản xe ô tô biển số 77A – 279.76 là 52.914.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 229.943.000 đồng.

Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần Ngọc C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Bị cáo nhận thức được phương tiện xe ô tô tham gia giao thông trên đường là nguồn nguy hiểm cao độ, nếu người điều khiển xe ô tô không tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ sẽ gây hậu quả đối đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Nhận thức được như vậy nhưng bị cáo điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường nhưng không chủ động giữ khoảng cách với xe chạy liền phía trước đến mức an toàn dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 của Luật giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ trên của bị cáo đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là xâm phạm đến tài sản của người khác, gây nên thiệt hại về tài sản trên 100.000.000 đồng, nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản của người khác, là một trong những khách thể quan trọng được Bộ luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn giao thông.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình; bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại Công ty TNHH TM & CH tổng hợp Trường Thịnh số tiền 45.000.000 đồng, bị hại Công ty TNHH Vĩnh Phong số tiền 206.317.140 đồng. Được bị hại làm đơn bãi nại trách nhiệm dân sự và xin miễn trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo biết ăn năn hối cải, có tinh thần bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả tốt. Hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, mẹ bị cáo hiện đang bị bệnh tim không có khả năng lao động, em gái bị cáo đang bị ung thư buồng trứng, bị cáo là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc những người này. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù, nhưng cho bị cáo được hưởng hình phạt có điều kiện và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung tội phạm và nhận định này của Hội đồng xét xử là phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại Công ty TNHH TM & CH tổng hợp Trường Thịnh số tiền 45.000.000 đồng, bị hại Công ty TNHH Vĩnh Phong số tiền 206.317.140 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo C theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại xe ô tô tải biển số 50H-237.57 và giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cho Nguyễn Hà Phong; trả lại xe ô tô con biển số 77A-279.76, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cho Nguyễn An Thuận, trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2 cho Nguyễn Tuấn Hùng; trả lại xe ô tô con biển số 77A-034.00, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe cho Trần Kim Trọng, trả lại giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Bảo T; giấy phép lái xe hạng B2 cho Dương Tuấn S xong, nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Xét những chứng cứ mà kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Đối với các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Bảo T và Dương Tuấn S điều khiển xe đúng làn đường, tốc độ quy định, Dương Tuấn S chuyển hướng quay đầu xe đúng quy định nên hành vi của Nguyễn Bảo T và Dương Tuấn S không có dấu hiệu của tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện P không xử lý hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc C 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/12/2024).

Giao bị cáo Trần Ngọc C cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thoả thuận xong về phần bồi thường thiệt hại, nên hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Ngọc C phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Ngọc C và công ty TNHH TM & XH tổng hợp T, được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 12 tháng 12 năm 2024). Công ty TNHH V, công ty Cổ phần giao nhận hàng hoá HTC, anh Dương Tuấn S, anh Nguyễn Bảo T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ