- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Đào Đình T "Mua bán trái phép chất ma túy"; Bùi Xuân H1 "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điề…"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2024/HS-ST Ngày 19-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sầm Thị Tươi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Trọng Trung và ông La Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đào Đình T (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 14 tháng 11 năm 1958 tại huyện H, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Trọng N và bà Nguyễn Thị T1 (Đều đã chết); Bị cáo có vợ là bà Lê Thị H và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1989; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 17/2010/HS-ST ngày 29/6/2010, Đào Đình T bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến nay đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/9/2024; tạm giam từ ngày 05/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L - Có mặt.
2. Bùi Xuân H1 (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1986 tại huyện V, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T2 và bà Đoàn Thị H2; Bị cáo có vợ là chị Lò Thị C và 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/9/2024; tạm giam từ ngày 05/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L - Có mặt.
- Người chứng kiến:
+ Ông Đỗ Quốc Q, sinh năm 1962.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai.
+ Ông Lê Văn T3, sinh năm 1954.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 15 phút ngày 26/9/2024, tại tuyến đường Q thuộc thôn T, xã T, huyện V, tổ công tác Công an huyện V và công an xã T phát hiện Bùi Xuân H1 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Khi được yêu cầu, Bùi Xuân H1 đã tự giác giao nộp 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục H1 đang cầm trên tay trái và khai nhận đó là gói ma túy Heroine H3 vừa mua của Đào Đình T vào khoảng 07 giờ sáng cùng ngày, tại khu vực đường thuộc thôn T, xã T với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Đình T tại thôn T, xã T, huyện V. Quá trình khám xét, T tự giác giao nộp 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng và khai nhận đây là tiền bán ma túy cho Bùi Xuân H1 mà có. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Xuân H1 không phát hiện, thu giữ gì. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Bùi Xuân H1, T khai nhận: Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 26/9/2024, T gặp và hỏi mua của một nam thanh niên không quen biết tại khu vực cầu B thuộc địa phận xã T, huyện V được 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu vàng giá 100.000 đồng. Về nhà, T dùng tay chia tách gói ma túy mua được ra một ít để sử dụng; số ma túy còn lại, T gói lại bằng giấy bạc màu vàng cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc. T và H1 cùng khai, đến khoảng hơn 07 giờ cùng ngày, T gặp H1 ở khu vực đường gần nhà, T bán cho H1 gói ma túy với giá 100.000 đồng; sau đó, H1 bị cơ quan điều tra bắt quả tang. Khi bị khám xét khẩn cấp T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Kết luận giám định số 386/KL-GĐMT ngày 30/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 0,154 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Bùi Xuân H1 gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKS-VB ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Đào Đình T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Bùi Xuân H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Xuân H1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Tuyên bố bị cáo Đào Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đào Đình T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 0,111 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng cùng bì niêm phong ban đầu đã tái niêm phong. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của Đào Đình T là tiền do phạm tội mà có. Đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra vụ án và xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Đào Đình T và Bùi Xuân H1 đã thừa nhận khoảng 07 giờ sáng ngày 26/9/2024 tại khu vực đường thuộc thôn T, xã T, huyện V, Đào Đình T đã bán cho Bùi Xuân H1 0,154 gam Heroine với giá 100.000 đồng; mua ma túy xong, Bùi Xuân H1 đang cầm trên tay thì bị Công an huyện V và Công an xã T yêu cầu kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét xử công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ để chứng minh bị cáo Đào Đình T có hành vi mua bán trái phép 0,154 gam Heroine cho Bùi Xuân H1, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo Bùi Xuân H1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,154 gam Heroine mua của Đào Đình T để sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khẳng định bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn truy tố bị cáo Đào Đình T và Bùi Xuân H1 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Ma túy huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại, gây mất trật tự an ninh, xã hội. Bị cáo Đào Đình T đã từng bị xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xét xử mức án đủ nghiêm, cách ly cách bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho Đào Đình T ngày 26/9/2024, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng thu giữ trong vụ án là 0,154 gam Heroine. Sau khi giám định, cơ quan giám định đã trích mẫu hết 0,043 gam Heroine nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Số Heroine còn lại sau giám định là 0,111 gam là vật chứng mà Nhà nước cấm lưu hành cùng 01 mảnh giấy bạc màu vàng và bì niêm phong ban đầu đã tái niêm phong nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của Đào Đình T là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Do hai bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo Đào Đình T và Bùi Xuân H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đào Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đào Đình T 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 26/9/2024.
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Bùi Xuân H1 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 26/9/2024. 2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,111 gam Heroine là vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định và 01 mảnh giấy bạc màu vàng thu giữ của Bùi Xuân H1 cùng bì niêm phong ban đầu đã tái niêm phong. Tuyên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Đào Đình T hiện đang được lưu giữ tại tài khoản tiền gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Bàn mở tại Kho bạc Nhà nước huyện V theo tài khoản số 3949.0.1052745. Toàn bộ vật chứng trong vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2024.
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Đào Đình T và Bùi Xuân H1; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. 4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA La Văn Hải
Hồ Trọng Trung
Sầm Thị Tươi Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND Văn Bàn;
- Công an huyện Văn Bàn;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo;
Sầm Thị Tươi
- Thi hành án (2);
- LưuHS,TA,THS,VP. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND Văn Bàn;
- Công an huyện Văn Bàn;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo;
Sầm Thị Tươi
- Thi hành án (2);
- LưuHS,TA,THS,VP.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA La Văn Hải
Hồ Trọng Trung
Sầm Thị Tươi Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND Văn Bàn;
- Công an huyện Văn Bàn;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo;
- Thi hành án (2);
Sầm Thị Tươi
- LưuHS,TA,THS,VP.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hoàng L Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND Văn Bàn;
- Công an huyện Văn Bàn;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn;
- Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai;
- Sở tư pháp; Bị cáo;
- Thi hành án (2);
Nguyễn Thị Hoàng Liên
- LưuHS,TA,THS,VP.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND Văn Bàn; - Công an huyện Văn Bàn; - Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn; - Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp; Bị cáo; - Người bào chữa; - Thi hành án (2); - LưuHS,TA,THS,VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |