vanban.org

Bản án 79/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 22/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 34 (Ba mươi tư) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 34 (Ba mươi tư) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HSST
Ngày 22-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội S xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Hoài Nam

Ông Nguyễn Viết Tuấn

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đình Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2023/TLST-HS ngày 08/5/2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-HS ngày 11/5/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D - Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1981; tại: Hà Nội; HKTT: Thôn 9, xã Ninh Hiệp, huyện K, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và con bà: Lâm Thị Mậu; vợ: Nguyễn Thị T, có 04 con: Con lớn sinh năm 2003 và con nhỏ sinh năm 2010; TATS: Theo danh chỉ bản số 148 ngày 01/3/2023 do Công an huyện K lập và lý lịch bị can thì bị cáo chưa có tiền án - tiền sự.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 23/02/2023 đến ngày 01/3/2023 chuyển tạm giam; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Thế D, sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT tại: S Kem, S Yên, D, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D là đối tượng nghiện ma túy loại Heroine. Khoảng 11 giờ ngày 23/02/2023, D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, màu trắng, không mang biển số từ nhà lên khu vực D, S, Bắc Ninh gặp hỏi mua 2.000.000 S ma túy Heroine của một người đàn ông không rõ nhân thân ở ven đường. Người đàn ông đưa cho D 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine. D cất giấu ma túy vừa mua được vào túi áo khoác ngoài bên trái và đi về. Trên đường về thì D nhận được điện thoại của Hoàng Thế D gọi hỏi mua ma túy, D S ý bán 400.000 S ma túy cho D và hẹn gặp nhau tại đường liên xã Ninh Hiệp - Đình Xuyên, thuộc thôn 8, Ninh Hiệp để giao dịch. Sau đó, D dừng xe bên đường, lấy gói ma túy vừa mua được chia làm 02 gói, gồm 01 gói giấy màu vàng (loại vỏ bao thuốc lá Thăng Long) và 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. D cầm gói ma túy bọc vỏ bao thuốc Thăng Long ở tay phải đi đến điểm hẹn để bán cho D. Đến điểm hẹn, D nhận số tiền 200.000 S của D thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại kết luận giám định số 1134/KL-HTHS ngày 02/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,934 gam; Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng(vỏ bao thuốc lá Thăng Long) để trong 01 túi nilong là ma túy Heroine, khối lượng 0,154 gam. Tổng khối lượng 1,088 gam ma túy Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 81/CT-VKSGL ngày 26/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

- Đề nghị Hội S xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS: Xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Không.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Văn D, cán bộ đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, giám định viên. Trong gói niêm phong là ma túy loại Heroine có khối lượng: 0,140 gam do phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội lấy mẫu giám định: 0,014 gam; 01 phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Văn D, cán bộ đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, giám định viên. Trong gói niêm phong là ma túy loại Heroine có khối lượng: 0,892 gam do phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội lấy mẫu giám định: 0,042 gam;

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu trắng, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng và số tiền 400.000 S.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội S xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội S xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng huyện K là hợp pháp.

* Về tội danh:

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, bản Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố.

Hội S xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 15 phút ngày 23/02/2023 tại khu vực thôn 8, Ninh Hiệp, K, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn D đang có hành vi bán trái phép chất ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 1,088 gam thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng vật chứng.

. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất may túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

. Viện Kiểm sát nhân dân huyện K đề nghị truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Do vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.

* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

* Về việc áp dụng hình phạt:

. Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội S xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội S xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên.

- Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nhân thân của bị cáo, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội S xét xử nên chấp nhận.

* Về hình phạt bổ sung:

. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

* Về xử lý vật chứng:

. Thu giữ của bị cáo 1,088 gam heroine (bao gồm: Gói niêm phong là ma túy loại Heroine có khối lượng: 0,140 gam do phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội lấy mẫu giám định: 0,014 gam và gói niêm phong là ma túy loại Heroine có khối lượng: 0,892 gam do phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội Hà Nội lấy mẫu giám định: 0,042 gam), bị cáo mua và bán cho đối tượng nghiện ma túy nên cần cho tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

. Thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy và số tiền 200.000 S là tiền bán ma túy nên cần cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ.

. Thu giữ của Hoàng Thế D 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu trắng, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng dùng để liên lạc mua ma túy và số tiền 200.000 S của D dùng để mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ.

* Về các vấn đề khác:

. Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

. Đối với Hoàng Thế D là người mua ma túy của bị can D để sử dụng. Qua xét nghiệm, Hoàng Thế D âm tính với chất ma túy. Hành vi của D chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu trắng, không mang biển số, số khung: RLHJA3917KY041583, số máy: JA39E-0897626, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn D. Quá trình xác minh làm rõ xe máy trên do chị Nguyễn Thị Thúy - Sinh 1980; HKTT: Thôn 5, Ninh Hiệp, K, Hà Nội mua tại Công ty TNHH Cao Sơn, địa chỉ: Số 48 Phố Mới, phường S Nguyên, S, Bắc Ninh từ ngày 31/01/2019. Chị Thúy bàn giao cho Nguyễn Văn Khánh

- Sinh 2003; HKTT: Thôn 9, Ninh Hiệp, K (con trai của D) quản lý sử dụng xe máy. Khánh chưa đăng ký xe. Ngày 23/02/2023, Nguyễn Văn D mượn xe máy của Khánh để sử dụng cá nhân, Khánh không liên quan đến hành vi phạm tội của D. Do đó, ngày 30/3/2023, Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe máy trên cho anh Nguyễn Văn Khánh là có căn cứ nên Hội S xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng và về các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội S xét xử.

* Về án phí:

. Bị cáo phải cD án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Về quyền kháng cáo:

. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 34 (Ba mươi tư) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Văn D, cán bộ đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, giám định viên. Trong gói niêm phong là ma túy loại Heroine có khối lượng: 0,140 gam do phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội lấy mẫu giám định: 0,014 gam;

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Văn D, cán bộ đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, giám định viên. Trong gói niêm phong là ma túy loại Heroine có khối lượng: 0,892 gam do phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội lấy mẫu giám định: 0,042 gam;

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng;

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu trắng, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng;

+ Tich thu sung công quỹ nhà nước số tiền 400.000 S.

(Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K theo Biên lai thu tiền

số 0055452 ngày 08/5/2023 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày

05/5/2023).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải cD 200.000 S án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án (về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình) trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án.

TM. HỘI S XÉT XỬ

Cỡ chữ