vanban.org

Bản án 79/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Đỗ Chơn T hạm tội “Mua bán trái hé chất ma túy”.

Á dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, c a Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã đư c sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử hạt bị cáo Đỗ Chơn T 07 (bảy) năm t , thời hạn t t nh t ngày 31/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Chơn T phạm tội Mua bán tp chất MT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Đỗ Chơn T hạm tội “Mua bán trái hé chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 79/2023/HSST
Ngày 13/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

2. Ông Võ Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm– Thư ký Tòa án nhân dân huy n C Chi, Thành hố H Ch Minh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Củ Chi, Thành ph Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Hiếu– Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n C Chi, Thành hố H Ch Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/HSST ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên Đỗ Chơn T, sinh năm 1992; Giới t nh Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấ T, xã P, huy n C, Thành hố H Ch Minh; Trình độ học vấn 10/12; Nghề nghi Tài xế; Quốc tịch Vi t Nam; Dân tộc Kinh; Tôn giáo Không; Con ông: Đỗ Chơn C và bà Võ Thị Ngọc L; Anh em ruột có 04 người kể cả bị cáo; Bị cáo có v tên H Thị H ng S, sinh năm 1992 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án: Không; Tiền sự Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam t ngày 31/10/2022 đến nay, bị cáo hi n có m t tại hiên tòa.

- Người làm chứng: 1/ Ông Nguyễn Phương N, sinh năm 2003; Địa chỉ Tổ 03, ấ B, xã P, huy n C, Thành hố H Ch Minh; (vắng m t).

2/ Ông Nguyễn Cao K, sinh năm 2004; Địa chỉ Tổ 03, ấ C, xã P, huy n C, Thành hố H Ch Minh; (vắng m t).

3/ Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1994; Địa chỉ Ấ C, xã P, huy n C, Thành hố H Ch Minh; (vắng m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài li u có trong h sơ vụ án và diễn biến tại hiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau Vào ngày 28/10/2022, Đỗ Chơn T mua 01 gói ma tuý với giá 1.500.000đ c a 01 người tên C chưa rõ lai lịch; Tr lấy 01 t ma tuý ra sử dụng, số ma tuý còn lại T hân thành 01 gói nhỏ và 01 gói lớn mang đi cất giấu tại góc nhà bế (nhà tại Ấ T, xã P, huy n C, Thành hố H Ch Minh) nhằm mục đ ch bán lại cho người khác. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 31/10/2022, T nhận đư c cuộc gọi c a Nguyễn Văn D, sinh năm 1994 (nơi cư trú Ấ C, xã P, huy n C, Thành hố H Ch Minh) hỏi mua 200.000đ ma tuý, T đ ng ý và hẹn giao dịch tại trước nhà c a T tại Ấ T, xã P, huy n C, Thành hố H Ch Minh. Sau khi thoả thuận xong, T xuống nhà bế lấy 01 gói ma tuý (gói nhỏ) cầm trên tay trái r i đi lên trước nhà để bán cho D nhưng chưa bán đư c thì bị lực lư ng công an kiểm tra, khi thấy lực lư ng công an T liền ném 01 gói nylong chứa tinh thể không màu là ma tuý t trong tay trái xuống đất gần chỗ T đang đứng khoảng 02 mét thì bị hát hi n bắt quả tang. Đ ng thời, T khai nhận vào ngày 24/10/2022, có bán ma tuý cho D với giá 200.000đ.

Kết quả xét nghi m ma tuý đối với T có kết quả dương t nh với chất ma tuý.

Khám xét khẩn cấ chỗ ở c a T tại Ấ T, xã P, huy n C, Thành hố H Ch Minh thu giữ vật chứng g m

- 02 gói nylong chứa tinh thể không màu đư c niêm hong trong 02 gói mang số vụ 1279/22, có chữ ký niêm hong c a giám định viên và cán bộ điều tra;

- 09 gói nylong không chứa gì, 01 đoạn ống nhựa có đầu nhọn, 01 hộ kim loại, 01 cái kéo kim loại, 01 cân đi n tử; 01 đi n thoại di động hi u Nokia, số Imei 354275388804114;

- 01 xe gắn máy biển số 59F1-506.94, số khung RLHJF4600DY080621, số máy JF46E0088879. Qua xác minh xác định xe do ông Lê Trọng N mua và đăng ký ch sở hữu t năm 2017. Năm 2020, ông N bán xe lại cho ông Đỗ Đức T1 là em ruột c a T sử dụng. Đầu tháng 10/2022, T mư n xe c a T1 để đi làm và sử dụng xe để đi mua ma tuý, T1 không biết vi c này. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an đã quyết định trả lại chiếc xe trên cho ông T1.

Tại kết quả giám định số 6302/KL-KTHS ngày 04/11/2022 c a Phòng k thuật hình sự Công an Thành hố H Ch Minh kết luận

Gói 1: Tinh thể không màu chứa trong gói 01 nylon (ký hi u m1) đư c niêm hong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký nghi tên Đỗ Chơn T và hình dấu c a Công an xã Phước Hi , huy n C Chi gởi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lư ng 0,2510gam, loại Metham hetamine;

Gói 2 Tinh thể không màu chứa trong gói 01 nylon (ký hi u m2) đư c niêm hong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký nghi tên Đỗ Chơn T và hình dấu c a Công an xã Phước Hi , huy n C Chi gởi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lư ng 0,9075gam, loại Metham hetamine.

Tại cơ quan điều tra và tại hiên Tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Chơn T đã th a nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS-CC ngày 16/3/2023 c a Vi n kiểm sát nhân dân huy n C Chi đã truy tố Đỗ Chơn T về tội “Mua bán trái hé chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại hiên Tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n C Chi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đ ng xét xử Á dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017), xử hạt Đỗ Chơn T t 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

Về vật chứng vụ án:

- Đề nghị tịch thu tiêu h y: 02 gói nylong chứa tinh thể không màu đư c niêm hong trong 02 gói mang số vụ 1279/22, có chữ ký niêm hong c a giám định viên và cán bộ điều tra; 09 gói nylong không chứa gì; 01 đoạn ống nhựa có đầu nhọn; 01 hộ kim loại; 01 cái kéo kim loại;

- Đề nghị tịch thu sung công su nhà nước 01 cân đi n tử, 01 đi n thoại di động hi u Nokia, số Imei 354275388804114.

Tại hiên Tòa, bị cáo Đỗ Chơn T th a nhận toàn bộ hành vi hạm tội như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau c ng là xin Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình hạt để bị cáo sớm về với gia đình. Hi n tại gia đình bị cáo khó khăn có v làm công nhân nhưng thu nhậ không ổn định và 02 con nhỏ, bị cáo là lao động ch nh c a gia đình, khi bị cáo đi chấ hành án thì gia đình bị cáo sẽ rất khó khăn. Vì sử dụng chất ma tuý, không có tiền mua ma tuý nên bị cáo mới thực hi n hành vi hạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong h sơ vụ án đã đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại hiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận thấy như sau

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an huy n C Chi, Điều tra viên,Vi n kiểm sát nhân dân huy n C Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại hiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều h há .

Về tội danh và điều luật á dụng.

Tại hiên tòa bị cáo Đỗ Chơn T đã khai nhận hành vi hạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội c a bị cáo tại hiên tòa h h với biên bản bắt người hạm tội quả tang và các tài li u chứng cứ có trong h sơ vụ án: Do bị nghi n ma tuý và cần có tiền tiêu xài mua ma tuý nên khoảng 20 giờ 00 hút ngày 31/10/2022, bị cáo nhận đư c cuộc gọi c a Nguyễn Văn D hỏi mua 200.000đ ma tuý, bị cáo đ ng ý và hẹn giao dịch tại trước nhà c a bị cáo (tại Ấ T, xã P, huy n C, Thành hố H Ch Minh). Sau khi thoả thuận xong, bị cáo xuống nhà bế lấy 01 gói ma tuý (gói nhỏ) cầm trên tay trái r i đi lên trước nhà để bán cho D nhưng chưa bán đư c thì bị lực lư ng công an kiểm tra, khi thấy lực lư ng công an, bị cáo liền ném 01 gói nylong chứa tinh thể không màu là ma tuý t trong tay trái xuống đất gần chỗ bị cáo đang đứng khoảng 02 mét thì bị hát hi n bắt quả tang về hành vi mua bán trái hé chất ma tuý. Đ ng thời, bị cáo khai nhận vào ngày 24/10/2022, có bán ma tuý cho D với giá 200.000đ.

Tại kết quả giám định số 6302/KL-KTHS ngày 04/11/2022 c a Phòng k thuật hình sự Công an Thành hố H Ch Minh kết luận

Gói 1 Tinh thể không màu chứa trong gói 01 nylon (ký hi u m1) đư c niêm hong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký nghi tên Đỗ Chơn T và hình dấu c a Công an xã Phước Hi , huy n C Chi gởi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lư ng 0,2510gam, loại Metham hetamine;

Gói 2 Tinh thể không màu chứa trong gói 01 nylon (ký hi u m1) đư c niêm hong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký nghi tên Đỗ Chơn T và hình dấu c a Công an xã Phước Hi , huy n C Chi gởi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lư ng 0,9075gam, loại Metham hetamine.

Bằng hành vi trên, Hội đ ng xét xử có cơ sở kết luận hành vi c a bị cáo Đỗ Chơn T đ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái hé chất ma túy”, tội danh và hình hạt đư c quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về t nh chất, mức độ c a hành vi hạm tội.

Ma túy là chất gây nghi n, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiế đến sức khỏe, t nh mạng c a con người nên Nhà nước có ch nh sách quản lý độc quyền và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán chất ma tuý và chế hẩm ma tuý. Bị cáo là người đ 18 tuổi, bị cáo nhận thức rõ vi c mua bán trái hé chất ma túy là bị há luật nghiêm cấm nhưng vì bản thân sử dụng chất ma túy, vì mục đ ch l i nhuận mong muốn có tiền để sử dụng chất ma túy mà vi hạm há luật.

Bị cáo đã thực hi n hành vi hạm tội cố ý, bất chấ mọi hậu quả kể cả sự tr ng trị c a há luật. Hành vi c a các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã không những đã trực tiế xâm hại đến ch nh sách quản lý độc quyền c a nhà nước về chất ma túy mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa hương. Xét t nh chất, mức độ hành vi hạm tội c a bị cáo nghĩ cần thiết hải á dụng hình hạt h h mới đ tác dụng giáo dục riêng và hòng ng a chung. Tuy nhiên khi lư ng hình, Hội đ ng xét xử cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự để có mức hình hạt h h .

[4 Về tình tiết tăng n ng trách nhi m hình sự Không có

[5 Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự Trong quá trình điều tra và tại hiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đ ng xét xử á dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; hi n hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn, bị cáo có v và 02 con nhỏ, bị cáo lại là lao động ch nh c a gia đình; m t khác gia đình bị cáo cũng có công cách mạng, bị cáo có ông cố là li t sĩ và bà cố là bà mẹ Vi t Nam anh h ng nên Hội đ ng xét xử quyết định á dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một hần hình hạt cho bị cáo là h h .

[6 Về hình hạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo là người nghi n ma túy, nghề nghi không ổn định nên không cần thiết hải á dụng hình hạt tiền đối với các bị cáo là h h .

Về khoản thu l i bất ch nh t vi c hạm tội theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự Bị cáo khai ngày 24/10/2022 có bán ma tuý cho D số tiền 200.000đ, do đó cần buộc bị cáo nộ vào ngân sách nhà nước số tiền thu l i bất ch nh 200.000đ là h h .

[8 Về xử lý vật chứng trong vụ án

- Đối với: 02 gói nylong chứa tinh thể không màu đư c niêm hong trong 02 gói mang số vụ 1279/22, có chữ ký niêm hong c a giám định viên và cán bộ điều tra; 09 gói nylong không chứa gì; 01 đoạn ống nhựa có đầu nhọn; 01 hộ kim loại; 01 cái kéo kim loại; Hội đ ng xét xử quyết định tịch thu tiêu h y theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với: 01 cân đi n tử, 01 đi n thoại di động hi u Nokia, số Imei 354275388804114; là công cụ hương ti n thực hi n hành vi hạm tội; Hội đ ng xét xử quyết định tịch thu và nộ ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 xe gắn máy biển số 59F1-506.94, số khung RLHJF4600DY080621, số máy JF46E0088879. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an đã quyết định trả lại chiếc xe trên cho ông Toán là người quản lý sử dụng h há ; Hội đ ng xét xử xét thấy h h .

[9 Đối với Nguyễn Văn D là người mua chất ma tuý c a bị cáo nhưng chưa đ căn cứ để xử lý D về hanh vi tàng trữ trái hé chất ma tuý, m t khác kết quả xét nghi m chất ma tuý c a D là âm tính; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n C Chi đã giao đối tư ng D cho địa hương quản lý là h h .

Đối với đối tư ng tên C bán ma tuý cho bị cáo, hi n chưa xác định đư c nhân thân lai lịch cụ thể, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n C Chi tiế tục xác minh điều tra xử lý sau; Hội đ ng xét xử xét thấy h h .

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Căn cứ Luật h và L h số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần buộc các bị cáo hải chịu án h hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố bị cáo Đỗ Chơn T hạm tội “Mua bán trái hé chất ma túy”.

- Á dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, c a Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã đư c sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử hạt bị cáo Đỗ Chơn T 07 (bảy) năm t , thời hạn t t nh t ngày 31/10/2022.

[2] Á dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu h y: 02 gói nylong chứa tinh thể không màu đư c niêm hong trong 02 gói mang số vụ 1279/22, có chữ ký niêm hong c a giám định viên và cán bộ điều tra; 09 gói nylong không chứa gì; 01 đoạn ống nhựa có đầu nhọn; 01 hộ kim loại màu đen; 01 cái kéo kim loại. (Theo Phiếu nhậ kho vật chứng số 13/PNK ngày 09/01/2023 c a Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n C Chi).

Tịch thu nộ ngân sách nhà nước 01 cân đi n tử, 01 đi n thoại di động hi u Nokia, số Imei 354275388804114. (Theo Phiếu nhậ kho vật chứng số 13/PNK ngày 09/01/2023 c a Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n C Chi).

[3] Á dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Buộc bị cáo hải nộ vào ngân sách nhà nước số tiền thu l i bất ch nh là 200.000đ (hai trăm nghìn đ ng). Thi hành ngay khi bản án có hi u lực há luật.

[4] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Á dụng Luật h và L h số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Đỗ Chơn T hải nộ 200.000đ (hai trăm nghìn đ ng) tiền án h hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ