vanban.org

Bản án 79/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 26/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ lu t Tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn B và Ngô Xuân E đã phạm tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy…"
  • Tòa quyết gì? Căn c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ lu t Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST
Ngày: 26/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Việt

Bà Phạm Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm – Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần: Hội trường xét xử trực tuyến – Nhà tạm giữ công an huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 98/2023/TLST-HS ngày10 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXXST-HS ngày 11/5/2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 01/TB-TA ngày 23/5/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Văn B, sinh năm: 2001, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi thường trú: Ấp 4, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông (không xác định) và bà Đỗ Thị N, sinh năm: 1955; Bị cáo là con út trong gia đình có 04 anh chị E; Bị cáo chưa có vợ, con; Căn cước công dân số: 080201002741.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Thống Nhất từ ngày 03/11/2022 cho đến nay.

2. Họ và tên: Ngô Xuân E, sinh năm: 1994, tại tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: Đội 4, ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Ngô Văn K, sinh năm: 1953 và bà Bùi Thị L, sinh năm: 1956; Bị cáo là con út trong gia đình có 05 anh chị E, Vợ: Thạch T có 01 con sinh 2017 (sống chung như vợ chồng năm 2017 không có đăng ký kết hôn và không sống chung từ năm 2018 cho đến nay); Căn cước công dân: 084094003029.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/01/2012 bị cáo bị khởi tố theo Quyết định khởi tố bị can số 17 ngày 24/01/2012 của công an huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Thống Nhất từ ngày 03/11/2022 cho đến nay.

(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Thạch N, sinh năm: 2004.

Nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Nơi cư trú: Đội 4, ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 21 giờ 40 phút ngày 03/11/2022, Công an huyện T tiến hành kiểm tra và l p biên bản người phạm tội quả tang tại phòng trọ số 1 nhà trọ thuộc ấp T, xã G, T, Đồng Nai (do ông Phạm Cao T - sinh năm: 1981, trú tại: ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai làm chủ), kết quả kiểm tra phát hiện 03 đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: Ngô Xuân E, Đỗ Văn B và Thạch N (sinh năm: 2004, trú tại: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh); kiểm tra bên trong góc phòng trọ phát hiện và thu giữ 01 hộp giấy bên trong có 01 túi nilon ch a tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý). Qua đấu tranh, các đối tượng khai nh n túi nilon ch a tinh thể màu trắng bị thu giữ trong hộp giấy là ma tuý đá do Đỗ Văn B mua với giá 300.000 đồng mang đến phòng trọ của Ngô Xuân E để cùng sử dụng.

Kết quả điều tra xác định: Đỗ Văn B và Ngô Xuân E là đối tượng nghiện ma tuý đá và đã cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần. Vào khoảng 17 giờ 30, ngày 03/11/2022, Đỗ Văn B sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO của mình liên lạc cho Ngô Xuân E để rủ E cùng sử dụng ma tuý, Ngô Xuân E đồng ý và rủ B về phòng trọ của E (ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai) để cùng sử dụng; B và E thống nhất về việc tổ ch c sử dụng trái phép chất ma tuý như sau: B là người mua ma tuý mang đến phòng trọ, còn E sẽ chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma tuý. Sau đó, B liên lạc với một đối tượng trên chương trình game Liên Quân (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá thì người này đồng ý và hẹn giao ma tuý tại đầu đường Phát Lộc (thuộc xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai); Đỗ Văn B điều khiển xe máy BKS: 53Y-2020 (của ông Đỗ Văn N, sinh năm: 1984, trú tại: ấp 4, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An) đến nơi hẹn, gặp một thanh niên đ ng đợi sẵn, sau khi trả 300.000 đồng thì người này đưa cho B 01 túi nilon ch a ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý, B đến phòng trọ của Ngô Xuân E, lúc này trong phòng trọ có Thạch N (sinh năm: 2004, trú tại: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh) là E vợ của Ngô Xuân E; B lấy túi ma tuý đổ một ít vào dụng cụ sử dụng do Xuân E chuẩn bị sẵn, số ma tuý còn lại B hàn kín và đưa cho Ngô Xuân E cất giấu trong hộp giấy để ở góc nhà gần chân cầu thang. Đồng thời, lúc này Đỗ Văn B và Ngô Xuân E cùng rủ Thạch N sử dụng ma tuý. Trong lúc cả ba đang sử dụng ma túy bị Công an huyện kiểm tra, bắt giữ và kết quả Đỗ Văn B, Ngô Xuân E và T dương tính với ma tuý.

Căn c Kết lu n giám định số: 2372/KL-KTHS ngày 12/11/2022 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Đồng Nai xác định: M u tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: M=0,1012gam, loại: Methamphetamine.

Quá trình điều tra, các bị cáo Ngô Xuân E và Đỗ Văn B khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 39/CT-VKS-TN ngày 06/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất quyết định truy tố đối với bị cáo: Đỗ Văn B và Ngô Xuân E về các tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 258 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo: Đỗ Văn B và Ngô Xuân E về các tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 258 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự.

Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 258; điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự, xử phạt:

+ Bị cáo Đỗ Văn B từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2022.

+ Bị cáo Ngô Xuân E từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2022.

Đề nghị Tòa án tuyên: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong m u v t sau giám định có khối lượng: M=0,0543gam, loại: Methamphetamine hoàn lại theo Kết lu n giám định số 2372/KL-KTHS ngày 12/11/2022 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý.

+ Tịch thu sung công 01 xe môtô BKS: 53Y6–2020 nhãn hiệu LIFAN Dream số máy: HD1P50FMHY0263422, số khung: PR10000001114, xe môtô trên của anh Đỗ Văn N (sinh năm: 1981, trú tại: ấp 4, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An) là anh ruột của B cho B mượn xe để đi lại, anh N không biết việc B sử dụng xe để phạm tội về ma tuý. Tuy nhiên, qua xác minh xe môtô trên không có giấy tờ ch ng minh nguồn gốc, Cơ quan CSĐT đã tiến hành trưng cầu PC09 Công an tỉnh giám định số khung số máy nhưng xe trên khung bị mài đục, không có thông tin trên hệ thống quản lý phương tiện đường bộ của Bộ Công an. Do đó, Cơ quan CSĐT chuyển Tòa đề nghị tuyên tịch thu sung công quỹ.

+ Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen của Đỗ Văn B, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen của Ngô Xuân E quá trình điều tra xác định các bị cáo sử dụng điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội.

* Trình bày của các bị cáo Ngô Xuân E và Đỗ Văn B tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, rất hối h n về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ để sớm trở về gia đình, sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đã thừa nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, ch ng c thu th p trong quá trình điều tra đủ căn c để xác định: Ngày 03/11/2022, tại ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Đỗ Văn B và Ngô Xuân E đã thực hiện hành vi “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” cho Thạch N (sinh năm: 2004, trú tại: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh), N là người không nghiện ma túy vì sự rủ rê lôi kéo của các bị cáo mà N tham gia sử dụng, đây là lần sử dụng ma túy đầu tiên với N và cũng vì tính tò mò muốn thử cho biết và thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khối lượng là M=0,1012gam, loại: Methamphetamine, thì bị phát hiện và xử lý.

Hành vi trên đây của Đỗ Văn B và Ngô Xuân E đã phạm vào các tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 258 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp lu t và không oan sai cho các bị cáo.

Xét hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của xã hội và chế độ quản lí của nhà nước về việc sử dụng chất ma túy, việc tàng trữ và lôi kéo người khác sử dụng các chất ma túy bị pháp lu t nghiêm cấm, những hành vi này trực tiếp gây ra những thiệt hại về tr t tự an toàn xã hội, tính mạng, s c khoẻ của chính người sử dụng trái phép chất ma tuý. Người nghiện ma túy bị ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần, gây ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Việc sử dụng ma túy là nguyên nhân d n đến các loại tội phạm khác.

Đánh giá vai trò của từng bị cáo xét thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu không chính đáng của mình. Các bị cáo là người đã thành niên có đủ khả năng nh n th c được hành vi của mình là phạm tội và thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ cũng như lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy nhưng v n cố ý thực hiện nhằm mong muốn đưa được chất ma tuý vào cơ thể người khác.

Trong tình hình tại địa phương, tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng và tính chất ph c tạp ngày càng cao, việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có m c án đủ nghiêm, tương x ng với tính chất m c độ mà hành vi của các bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét nhân thân các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về nhân thân bị cáo Ngô Xuân E là người phạm tội có nhân thân xấu, năm 2012 bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị khởi tố theo Quyết định khởi tố bị can số 17 ngày 24/01/2012 của công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự. Do v y, Hội đồng xét xử cần xem xét, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần tương ng khi quyết định hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp lu t, giúp các bị cáo yên tâm cải tạo tốt thành công dân biết tuân thủ pháp lu t.

Về các hành vi có liên quan trong vụ án

- Đối với đối tượng bán ma tuý cho B, B chỉ liên hệ mua ma tuý qua “game liên quân Mobile” và không rõ nhân thân lai lịch; Cơ quan CSĐT đã xác minh tại Công an xã G và gửi văn bản thông báo đến Công an các xã, thị trấn trên địa bàn huyện để truy tìm đối tượng đã bán ma tuý cho B nhưng chưa có kết quả, nếu phát hiện đối tượng, đủ căn c sẽ xử lý theo quy định.

- Đối với đối tượng Thạch N, qua test nhanh dương tính với ma tuý, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đồng thời gửi thông báo về địa phương để quản lý.

Về xử lý vật chứng:

+ Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong m u v t sau giám định có khối lượng: M=0,0543gam, loại: Methamphetamine hoàn lại theo Kết lu n giám định số 2372/KL-KTHS ngày 12/11/2022 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý.

+ Cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 xe môtô BKS: 53Y6–2020 nhãn hiệu LIFAN Dream số máy: HD1P50FMHY0263422, số khung: PR10000001114, xe môtô trên của anh Đỗ Văn Nung (sinh năm: 1981, trú tại: ấp 4, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An) là anh ruột của B cho B mượn xe để đi lại, anh Nung không biết việc B sử dụng xe để phạm tội về ma tuý. Tuy nhiên, qua xác minh xe môtô trên không có giấy tờ ch ng minh nguồn gốc, Cơ quan CSĐT đã tiến hành trưng cầu PC09 Công an tỉnh giám định số khung số máy nhưng xe trên khung bị mài đục, không có thông tin trên hệ thống quản lý phương tiện đường bộ của Bộ Công an.

+ Cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen của Đỗ Văn B, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen của Ngô Xuân E quá trình điều tra xác định các bị cáo sử dụng điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn B và Ngô Xuân E phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự 2015.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên tòa là phù hợp với tài liệu ch ng c của vụ án nên chấp nh n.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 258; điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ lu t Hình sự;

Căn c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ lu t Tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn B và Ngô Xuân E đã phạm tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 258; điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự, xử phạt:

+ Bị cáo Đỗ Văn B 02 (Hai) năm tù về tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2022.

+ Bị cáo Ngô Xuân E 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn c Điều 47 Bộ lu t Hình sự tuyên:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 xe môtô BKS: 53Y6– 2020 nhãn hiệu LIFAN Dream số máy: HD1P50FMHY0263422, số khung: PR10000001114; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen của Đỗ Văn B, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen của Ngô Xuân E.

- Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 phong bì số 2372/KL-KTHS ngày 12/4/2922 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Đồng Nai mang tên Ngô Xuân E và Đỗ Văn B là m u v t còn lại sau giám định có khối lượng: M=0,0543gam, loại: Methamphetamine, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý.

(Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/4/2023).

4. Về án phí:

Các bị cáo Đỗ Văn B và Ngô Xuân E mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Văn B và Ngô Xuân E có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ