vanban.org

Bản án 79/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Lê Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST
Ngày 10/5/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN-TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân

: Ông Dương Văn Xuyên

Ông Nguyễn Văn Vĩ

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc

Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Lập Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023 tại phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân

thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án

hình sự thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 đối với bị

cáo:

Họ và tên: Lê Văn Đ, sinh năm 1993 tại Thanh Hòa. Nơi ĐKHKTT và

chỗ ở hiện nay: Thôn L S, xã Ng S1, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; nghề

nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá : Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính:

Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Cộng H và bà Phạm Thị

Ng; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm

giam từ ngày 29/12/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 12h ngày 29/12/2022, Lê Văn Đ

đi xe buýt từ huyện Tiên Du đến khu vực huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mua 100.000đ ma túy của một người phụ nữ không quen biết đứng ở rìa đường. Sau khi mua được ma túy, Đ đứng đợi xe buýt đi về thì có 01 người nam giới đi ô tô qua và bảo Đ lên xe để cùng đi làm. Đ đồng ý lên xe và đi cùng người đàn ông. Khi đi đến gầm cầu đường 18 thuộc thôn Đông, xã Phú Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, người nam giới bảo Đ xuống xe chờ để người này đi đón chủ nhà. Đ đứng đợi khoảng 10 phút thì bị Cơ quan Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra thu giữ của Đ 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 xi lanh đã qua sử dụng.

Tại kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phòng

KTHS-Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy thu giữ của Lê Văn Đ là ma túy

loại Hê rô in có khối lượng 0,106g.

Đối với người nữ giới bán ma túy cho Đ, do Đ không biết cụ thể tên, tuổi,

địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ xử lý trong vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng

như nội dung vụ án đã được tóm tắt trên. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 30/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân

huyện Sóc Sơn truy tố Lê Văn Đ, về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh

luận: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Lê Văn Đ mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính

từ ngày 29/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các tang vật đã thu giữ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên

trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục

quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị

cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ

quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 29/12/2022 tại khu vực gầm cầu đường 18 thuộc thôn Đông, xã Phú

Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Lê Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái

phép 0,106g ma túy loại Hê rô in với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã

cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy

định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái

phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế

độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm nghiêm trọng

đến an ninh trật tự công cộng, đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi

giống cũng như làm ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó,

việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo

dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi

quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải. Do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Mặc dù nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu

nhưng căn cứ vào tính chất vụ án, loại tội bị cáo vi phạm thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật

hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân bị cáo là con nghiện nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn có thu giữ

của bị cáo 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của bị cáo và cán bộ giám định; 01 xi lanh đã qua sử dụng. Xét đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều

47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Lê Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, về tội “ Tàng trữ trái phép chất

ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2022.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Lê Văn Đ

và cán bộ giám định; 01 xi lanh đã qua sử dụng

(Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh

sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc

Sơn).

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo được quyền

kháng cáo.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ