vanban.org

Bản án 79/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 11/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Quàng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 4 năm 2023. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, khoản 3 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST
Ngày: 11-7-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lò Văn Thuỷ

2. Ông: Lò Văn Ngắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2023/ TLST-HS, ngày 20 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST – HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn T; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1986 tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản NH, xã A, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Quàng Văn Đ, sinh năm 1957 và con bà Lò Thị O, sinh năm 1957; Gia đình bị cáo có 05 anh chị em ruột bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Bị cáo có vợ là Quàng Thị V, sinh năm 1991 (đã ly hôn), bị cáo chưa có con; Tiền sự; Tiền án: Không; Nhân thân: Đã bị xử lý hành chính: Năm 2014 bị cáo bị Công an phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 07/QĐ-XPVPHC, ngày 21/5/2014; đã bị xét xử: Năm 2011 bị cáo bị TAND huyện Mường Ảng xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 21/2011/HSST ngày 13/3/2021 (đã được xoá án tích), năm 2015 bị cáo bị TAND thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 72/2015/HSST ngày 14/7/2015 (đã được xoá án tích). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Ảng từ ngày 05/4/2023 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Họ và tên: Quàng Văn Đ, sinh năm 1957, nơi cư trú: Bản NH, xã A, huyện MA, tỉnh Điện Biên (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 05/4/2023, Quàng Văn T mượn xe mô tô nhãn hiệu ESPERO màu sơn đen, biển kiểm soát 27B1-675.19 của bố là Quàng Văn Đ từ nhà đi ra khu vực bản CN, xã AT, huyện Mường Ảng để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đi đến khu vực cây xăng thuộc bản CN, xã AT, T gặp, hỏi mua được của một người đàn ông không biết tên tuổi 02 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy màu trắng xanh với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine T cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc, lên xe mô tô đi về. Đến 19 giờ 55 phút cùng ngày, đang trên đường về T gặp tổ công tác Công an huyện Mường Ảng đang làm nhiệm vụ kiểm tra, yêu cầu, giải thích có ma tuý đang cất giấu mang ra giao nộp. T đã lấy 02 gói Heroine được gói bằng các mảnh giấy màu trắng xanh có khối lượng 0,24 gam giao nộp cho tổ công tác.

Theo biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 05/4/2023 của Công an huyện Mường Ảng và Kết luận giám định số 604/KL-KTHS, ngày 13 tháng 04 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

- Khối lượng vật chứng thu giữ của Quàng Văn T là 0,24 gam.

- Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 52/CT-VKSMA ngày 20/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mường Ảng để xét xử bị cáo Quàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Quàng Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xử phạt Quàng Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu để tiêu hủy 0,14 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định, 02 mảnh giấy màu trắng xanh.

- Trả lại cho ông Quàng Văn Đ 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen, biển kiểm soát 27B1 – 675.19, số khung RPEXCE8PEHA104740, số máy VDEJQ152FMJ104740 xe cũ qua sử dụng.

* Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST.

Bị cáo Quàng Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng, bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng, bị cáo không có tranh luận gì.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Ông Đ trình bày: Chiếc xe mô tô mà cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Quàng Văn T (T là con trai của ông) vào ngày 05/4/2023 là xe của ông, nguồn gốc chiếc xe là ông mua của anh Lường Văn K sinh năm 1984, trú tại bản MĐ, xã A, huyện MA với giá 2000.000 đồng, mua vào khoảng tháng 12/2022, xe đăng ký mang tên Lường Văn K, ông đã trả đủ tiền mua cho anh K. Ngày 05/4/2023 bị cáo T là con trai ông mượn xe của ông ra chợ thị trấn MA, còn ra làm gì thì bị cáo không nói cho ông biết. Nay ông đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy nói trên cho ông.

Bị cáo nói lời sau cùng trước khi nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nội dung vụ án:

Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn T đã khai và công nhận: Hồi 19 giờ 55 phút ngày 05/4/2023 tại khu vực bản CN, xã AT, huyện MA, tỉnh Điện Biên bị cáo bị bắt vì đang tàng trữ trái phép 0,24 gam Heroine, mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 52/CT-VKS-MA, ngày 20/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo tàng trữ trái phép 0,24 gam Heroine đủ định lượng buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 249 BLHS quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…c) Heroine…,Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam".

[2] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.

[3] Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho các loại tội phạm gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 12/12, năm 2007 đi học tại trường Cao đẳng Kinh tế tỉnh Điện Biên, năm 2010 tốt nghiệp ra trường. Năm 2007 kết hôn với chị Quàng Thị V (đã ly hôn). Năm 2014 bị cáo bị Công an phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 07/QĐ-XPVPHC, ngày 21/5/2014; Năm 2011 bị cáo bị TAND huyện Mường Ảng xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 21/2011/HSST ngày 13/3/2021 (đã được xoá án tích), năm 2015 bị cáo bị TAND thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 72/2015/HSST ngày 14/7/2015 (đã được xoá án tích). Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo vẫn cố ý mua và tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi tổ công tác phát hiện bị cáo đã tự giác lấy ma túy ra để giao nộp đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 cho bị cáo. Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng nào qui định tại Điều 52 BLHS.

Bị cáo với nghề nghiệp làm nông nghiệp, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Đối với người đàn ông, người mà bị cáo T khai đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ ở đâu, Cơ quan CSĐT không có đủ cơ sở xác minh làm rõ.

- Đối với ông Quàng Văn Đ cho bị cáo mượn xe mô tô, không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội không đề cập vấn đề xử lý.

. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Hội đồng xét xử:

- Tịch thu để tiêu hủy 0,14 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định, 02 mảnh giấy màu trắng xanh.

- Chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen, biển kiểm soát 27B1 – 675.19, số khung RPEXCE8PEHA104740, số máy VDEJQ152FMJ104740 xe cũ qua sử dụng mà cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Quàng Văn T (T là con trai của ông Đ) vào ngày 05/4/2023 là xe của ông Đ, nguồn gốc chiếc xe là ông Đ mua của anh Lường Văn K sinh năm 1984, trú tại bản MĐ, xã A, huyện MA với giá 2000.000 đồng, mua vào khoảng tháng 12/2022, xe đăng ký mang tên Lường Văn K, ông đã trả đủ tiền mua cho anh K. Ông Đ đề nghị trả lại chiếc xe máy nói trên cho ông, vì khi bị cáo mượn xe của ông bị cáo không nói cho ông biết mượn xe để đi mua ma tuý. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của ông Đ về việc trả lại chiếc xe máy thu giữ của bị cáo T cho ông (Trả lại cho ông Quàng Văn Đ 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen, biển kiểm soát 27B1 – 675.19, số khung RPEXCE8PEHA104740, số máy VDEJQ152FMJ104740 xe cũ qua sử dụng).

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí HSST.

. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[10] Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Quàng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 4 năm 2023.

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu để tiêu hủy 0,14 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định, 02 mảnh giấy màu trắng xanh.

- Trả lại cho ông Quàng Văn Đ 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen, biển kiểm soát 27B1 – 675.19, số khung RPEXCE8PEHA104740, số máy VDEJQ152FMJ104740 xe cũ qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 20/6/2023).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS:

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/7/2023).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/7/2023).

Cỡ chữ