vanban.org

Bản án 79/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/5/2023. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,2320g; 01 ví giả da màu đen của T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Trưởng tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-ST
Ngày 21 - 9 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.

CácHội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Sửu và ông Đỗ Ngọc Thịnh.

-Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại hội trường Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Lập Thạch,Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúcxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc T, sinh ngày 19/6/1976; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã T, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1955; vợ Nguyễn Thị A, sinh năm 1979; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2004; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1955 (vắng mặt).

+ Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Người làm chứng: Anh Tạ Minh D, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố T1, phường K, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Người chứng kiến: Ông Nguyễn Viết L, sinh năm 1959 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn S, xã V, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 20/5/2023, tại khu vực gầm cầu chui đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc thôn S, xã V, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Quốc T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người. Vật chứng thu giữ: Thu tại túi quần phía trước bên trái của T đang mặc 01 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng (vật chứng được niêm phong ký hiệu A1). T khai là gói ma túy heroine vừa mua được để sử dụng cho bản thân; thu tại túi quần phía trước bên phải của T đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu vàng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMHA loại SIRIUS biển kiểm soát 19B1-124.98; trong cốp xe có 01 ví giả da màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Quốc T và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trình Thị Hải Y.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của T không thu giữ đồ vật tài sản gì.

Tại kết luận giám định số 1450/KLGĐ ngày 24/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“Mẫu chất cục bột màu trắng gửi giám định ký hiệu A1 có khối lượng 0,2661g (không phảy hai sáu sáu một gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Heroine”.

Heroine có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Về nguồn gốc ma túy T khai trước đó khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày T gọi điện vào số điện thoại 0367730440 của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ và hẹn đến khu vực cây xăng thuộc tổ dân phố S, thị trấn T, huyện Sông Lô mua 01 gói với giá 500.000 đồng.

Đối với người đàn ông có số điện thoại 0367730440 là người bán ma túy cho T, do T không biết rõ tên tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ.

Tại Cáo trạng số 84/CT-VKS-MT ngày 29/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Quốc Tvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng Điều 46, khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,2320g. Tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động của T; tịch thu tiêu hủy 01 ví giả da của T do T không yêu cầu nhận lại; trả lại cho Nguyễn Quốc T 01 căn cước công dân; trả lại cho bà Nguyễn Thị Q 01 xe mô tô biển kiểm soát 19B1- 124.98 và giấy đăng ký xe.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11 giờ ngày 20/5/2023, tại khu vực gầm cầu chui đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc thôn S, xã V, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Quốc T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy theo kết luận giám định loại Heroine có khối lượng 0,2661g mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi cất giữ chất ma túy để sử dụng cho bản thân của Nguyễn Quốc T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét lời nhận tội củabị cáotại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Quốc Tphạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.Điều luật quy định:

“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

… c, Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất vụ án lànghiêm trọng, hành vi phạm tội củabị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Như chúng ta đã biết ma tuý đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Trong khi cả xã hội đang đấu tranh để đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống thìbị cáo lại làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy cho bản thân và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội củabị cáo.

Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Quốc T là người có sức khoẻ, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nhưng không chịu làm ăn chân chính, ăn chơi đua đòi nên nghiện ma túy. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao xong xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: “Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Bị cáolà người nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,2320g là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 ví giả da màu đen của T đã cũ không còn giá trị sử dụng bị cáo không đề nghị nhận lại nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động của T sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy nên tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước; 01 căn cước công dân cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc T; đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 19B1- 124.98 và giấy đăng ký xe là tài sản của bà Nguyễn Thị Q, khi bà Q cho chị Anh vợ T mượn bà Q không biết T sử dụng vào việc đi mua ma túy nên cần trả lại cho bà Nguyễn Thị Q.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do T không biết rõ tên tuổi địa chỉ người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp pháp luật.

Về án phí:Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/5/2023.

Căn cứ vào Điều 46,khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,2320g; 01 ví giả da màu đen của T.

Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu vàng.

Trả lại cho Nguyễn Quốc T 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Quốc T.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Q 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMHA loại SIRIUS biển kiểm soát 19B1-124.98 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trình Thị Hải Y.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 9 năm 2023 giữa Công an huyện Lập Thạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanvắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ