vanban.org

Bản án 79/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Huỳnh Thanh S 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án; 2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-PT
Ngày: 29-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Thẩm phán:

Ông Trần Trọng Nhân

Bà Hoàng Thị Hải Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Trúc Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo Hà Thanh S và Vũ Văn C do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Hà Thanh S, sinh ngày 19/9/1990 tại Cà Mau; nơi cư trú: Khóm M, thị trấn S, huyện Tr, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Hiệp H và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ con; tiền án: Có 01 tiền án (Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2020/HS-ST ngày 04/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2021); tiền sự: Có 01 tiền sự (Ngày 24/8/2022 bị Trưởng Công an thị trấn Sông Đốc ban hành Quyết định số 672/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, chấp hành xong ngày 05/10/2022). Bị cáo tại ngoại có mặt.

2. Vũ Văn C, sinh ngày 02/12/1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Ấp B, xã Ph, huyện Nh, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở khác: Khóm H, thị trấn S, huyện Tr, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Quang R (đã chết) và bà Phạm Thị L (đã chết); chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự (Ngày 24/8/2022 bị Trưởng Công an thị trấn Sông Đốc ban hành Quyết định số 679/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, chấp hành xong ngày 05/10/2022). Bị cáo tại ngoại có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 03/12/2022, tại mé lộ trước quán nước của bà Huỳnh Thị L thuộc khóm K, thị trấn S, huyện Tr, tỉnh Cà Mau, Công an thị trấn Sông Đốc phát hiện bắt quả tang Hà Thanh S, Vũ Văn C và Huỳnh Văn T đang lắc bầu cua được thua bằng tiền. Hình thức đặt tiền mỗi bàn ít nhất 20.000 đồng, cao nhất 40.000 đồng, T là người lắc bầu cua, S và C đặt tiền vào các ô có hình: Bầu, Cua, Tôm, Cá, Nai, Gà; nếu đặt tiền vào ô hình con nào, sau khi lắc 03 cục xốp lật hình lên giống như con đã đặt thì thắng, nếu sau khi lắc 03 cục xốp không có lật hình con đã đặt thì thua. Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm: Số tiền 120.000 đồng thu trực tiếp trên chiếu bạc; 01 hộp nhựa màu vàng; 01 giá cân bằng kim loại; 07 cục xốp có hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà ở 06 mặt; 01 giấy đặt bầu cua có hình bầu, cua, tôm, cá, nai, gà và kiểm tra trong thùng nước đá màu xanh trong quán nước của bà Huỳnh Thị L số tiền 2.900.000 đồng (T thừa nhận số tiền 2.740.000 đồng là số tiền ban đầu của T dùng vào mục đích lắc bầu cua được thua bằng tiền, số tiền 160.000 là trong quá trình lắc bầu cua thắng được của S và C). Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 3.020.000 đồng (trong đó số tiền ban đầu của T là 2.740.000 đồng, của S là 120.000 đồng, của C là 160.000 đồng) chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm, quá trình điều tra xác định Hà Thanh S và Vũ Văn C từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” chưa được xóa.

Quá trình Uỷ ban nhân dân thị trấn Sông Đốc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Huỳnh Văn T đã áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu số tiền thu giữ 2.900.000 đồng dùng vào việc đánh bạc (bút lục số 32).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Thanh S 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”;

- Căn cứ điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn C 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29/6/2023, các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo S thay đổi kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm 46/2023/HS-ST ngày 15/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời về phần hình phạt.

- Lời nói sau cùng của bị cáo S: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt;

- Lời nói sau cùng của bị cáo C: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, cụ thể: Hà Thanh S và Vũ Văn C cùng có 01 tiền sự chưa được xóa về hành vi đánh bạc, nhưng cả hai vẫn tham gia cùng với Huỳnh Văn T lắc bầu cua được thua bằng tiền tại mé lộ trước quán nước của bà Huỳnh Thị L thuộc khóm K, thị trấn S, huyện Tr, tỉnh Cà Mau và bị Công an thị trấn Sông Đốc phát hiện bắt quả tang lúc 19 giờ 45 phút ngày 03/12/2022. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 3.020.000 đồng (trong đó số tiền của T là 2.740.000 đồng, của S là 120.000 đồng, của C là 160.000 đồng). Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã xét xử các bị cáo S và C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Đối với T do số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên ngày 09/12/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn Sông Đốc đã ban hành Quyết định số 467/QĐ-XPHC xử phạt 1.500.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đánh bạc là trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.

Đối với bị cáo S: Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có tình tiết tăng nặng là tái phạm. Từ đó, xử phạt bị cáo 09 tháng tù là tương xứng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, tại phiên tòa bị cáo thay đổi kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.

Đối với bị cáo C: Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Gia đình có công với cách mạng. Từ đó, xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, kháng cáo của bị cáo cũng không được chấp nhận.

Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa được chấp nhận.

Do kháng cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Thanh S về việc xin giảm nhẹ hình phạt và kháng cáo của bị cáo Vũ Văn C về việc xin được hưởng án treo; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời về phần hình phạt.

2. Về trách nhiệm hình sự:

2.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Huỳnh Thanh S 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án;

2.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Vũ Văn C 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2035/UBTVQH14 ngày 30/12/2035 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo S và C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm với số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng/bị cáo.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ