vanban.org

Bản án 79/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 19/05/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin H án treo của bị cáo Lương Văn Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 20/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh B. Xử:

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Q 03 (ba) năm tù nhưng cho H án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án Pc thẩm 19/5/2023. Giao bị cáo Lương Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã Tam Dị, huyện LN, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Quyết - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin H án treo của bị cáo Lương Văn Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 20/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh B. Xử:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HS-PT
Ngày 19/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử Pc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hà;

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Hiền;

Bà Nguyễn Thị Hương Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 19/5/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B xét xử Pc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2023/TLPT-HS ngày 24/3/2023 đối với bị cáo Lương Văn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 20/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh B.

* Bị cáo có kháng cáo:

Lương Văn Q, sinh năm 1995. Tên gọi khác: không; Giới tính: N; nơi cư trú: thôn Bãi Lời, xã Tam Dị, huyện LN, tỉnh B; Quốc tịch: Việt N; dân tộc: nùng; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; bố đẻ: Lương Văn Hồng, sinh năm 1973; mẹ đẻ: Lý Thị Thơm, sinh năm 1975; gia đình bị cáo có 02 anh em, bản thân là con thứ 01 trong gia đình; bị cáo chưa có vợ và con.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn Q: Ông Thân Văn Lợi - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (Bị cáo từ chối trợ giúp viên pháp lý).

* Người tham gia tố tụng khác: Vụ án còn có đại diện hợp pháp bị hại là ông Phùng Văn H, bà Mã Thị H, cháu Phùng Thị Kim L; Đại diện hợp pháp cho cháu L là bà Mã Thị H; người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan là bà Mã Thị H, cháu Phùng Thị Kim L, anh Kim Văn P, anh Ngô Hải N nhưng không có kháng cáo không L quan đến kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa Pc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Văn Q chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Khoảng 19 giờ ngày 18/8/2022, Lương Văn Q đến quán bia nhà anh Phùng Văn Thiều ở cùng thôn uống bia cùng anh Thiều; anh Phùng Văn Bình; Nguyễn Văn Hiển và Vi Văn Nguyên (đều ở cùng thôn với Q). Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi uống bia xong thì Q cùng anh Bình rủ nhau xuống thị trấn Đồi Ngô, huyện LN uống nước. Anh Bình đưa chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH125I, biển số 98F1-398.72 cho Q, Q điều khiển xe mô tô chở anh Bình ngồi sau đi trên đường Tỉnh lộ 295 hướng xã Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô, huyện LN. Khi Q điều khiển xe mô tô đi đến Km 2+200 thuộc địa phận thôn Hà P 12, xã Tam Dị, huyện LN, Q quan sát thấy phía trước có anh Ngô Hải N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave A, biển số 98F1-391.46 chở anh Kim Văn P đang đi từ cầu bên máng (từ thôn Hà P 13, xã Tam Dị) sang bên kia đường (hướng từ phải sang trái theo hướng Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô). Khi xe mô tô của anh N đi sang phần đường bên phải và đang đi chếch chéo về bên phải (hướng từ thị trấn Đồi Ngô đi xã Tam Dị) để rẽ vào thôn Hà P 12, xã Tam Dị thì lúc này xe mô tô do Q điều khiển đi tới. Do khoảng cách gần nên bánh trước xe mô tô biển số 98F1-398.72 do Q điều khiển đã đâm vào giá để chân sau bên trái của xe mô tô biển số 98F1-391.46 do anh N điều khiển. Hậu quả hai xe mô tô đổ, văng rê trên mặt đường, hư hỏng. Anh N, anh P, anh Bình ngã ra đường được đưa đi cấp cứu, đến ngày 20/8/2022 thì anh Bình tử vong.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện LN đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, đo nồng độ cồn trong hơi thở của Lương Văn Q, Ngô Hải N, kết quả: Lương Văn Q là 0,387mg/l; Ngô Hải N là 0,000mg/l và tạm giữ: 01 biển số 98F1-391.46 và 01 biển số 98F1-398.72.

*) Khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 2+200 đường Tỉnh lộ 295 thuộc địa phận thôn Hà P 12, xã Tam Dị, huyện LN, tỉnh B. Mặt đường trải nhựa áp phan rộng 6,5m, giữa đường có vạch kẻ đường đứt quãng màu vàng chia thành hai phần đường. Nơi xảy ra vụ việc nằm trong khu vực đặt biển cảnh báo nguy hiểm nơi giao nhau với đường không ưu tiên ở hai phía hiện trường. Khám nghiệm theo hướng Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô, lấy mép đường bên phải hướng khám nghiệm làm mép chuẩn. Lấy cột điện số 1.2.5 bên phải hiện trường làm mốc chuẩn.

Tại hiện trường phát hiện:

- Vết cày xước mặt đường, ký hiệu (X1) kích thước (21,5x0,7)m, điểm đầu cách mép chuẩn là 4,4m, cách mốc chuẩn là 5,35m, điểm cuối cách mép chuẩn là 4,9m.

- Vết cày xước mặt đường, ký hiệu (X2) kích thước (2,1x0,65)m, điểm đầu vết cách mép chuẩn là 5,7m, cách mốc chuẩn là 9,3m, cách điểm đầu vết số (X1) là 4,8m, điểm cuối cách mép chuẩn là 7,8m.

- Xe mô tô biển số 98F1-391.46, ký hiệu (3) đổ nghiêng trái tại lề đường trước cửa quán bida "Hồng Phát". Tâm trục bánh trước cách mép chuẩn là 7,8m, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn là 7,1m, cách mốc chuẩn là 10,8m. Đầu xe hướng chếch chéo bên trái và đi thị trấn Đồi Ngô. Đuôi xe hướng chếch chéo bên phải và hướng đi Tam Dị.

- Vết máu loang, ký hiệu (M) kích thước (0,5x0,4), tâm vết cách mép chuẩn là 2,8m, cách mốc chuẩn hướng đi Tam Dị là 19,7m.

- Xe mô tô biển số 98F1-398.72 đổ nghiêng phải tại hiện trường, đầu xe hướng chếch bên phải và đi thị trấn Đồi Ngô, đuôi xe hướng chếch bên trái và hướng đi Tam Dị. Tâm trục bánh trước cách mép chuẩn là 4,7m, cách tâm vết máu (M) là 4,1m. Tâm trục bánh sau cách mép chuẩn là 5,5m, cách mốc chuẩn là 22,9m.

- Vị trí tiếp giáp lối đi thôn Hà P 12 với đường tỉnh 295 rộng 7m, vị trí giao nhau mép đường bên phải lối đi thôn Hà P 12 hướng từ đường tỉnh 295 đi thôn Hà P 12 cách điểm đầu vết (X1) là 3,7m. Điểm đầu vết (X1) cách mép đường trái theo hướng Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô là 2,77m.

- Vị trí tiếp giáp lối đi lên cầu bên máng thôn Hà P 13 với đường tỉnh 295 rộng 6,1m, vị trí giao nhau mép đường bên phải cầu đi thôn Hà P 13 hướng đường tỉnh 295 đi thôn Hà P 13 (cầu bên máng) cách điểm đầu vết (X1) là 7,4m.

*) Kết quả dựng lại hiện trường: Ngày 18/9/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện LN tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông. Kết quả dựng lại hiện trường phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường do Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện LN lập ngày 18/8/2022.

*) Khám nghiệm tử thi anh Phùng Văn Bình: Vùng đầu: Tóc đen, cắt trung bình; hai lỗ tai khô, miệng khép không kín, lưỡi trong cung răng; hai mắt khép không kín, đồng tử hai bên giãn. Vùng chẩm phải có vết thương rách ra, cách đỉnh vành tai trái 6,5cm, cách đường giữa chẩm 05cm, bờ mép nham nhở, còn cầu tổ chức, kích thước (2x0,6)cm, sâu sát xương, lóc tổ chức dưới da từ trên xuống dưới, từ sau ra trước. Vùng mép miệng, má, cổ hai bên có 01 rãnh hằng da khép kín, L tục với khoang miệng, đậm ở bên phải, mờ dần về bên trái, tổ chức da sẫm màu. Vùng dưới cằm và góc hàm bên phải có diện bầm tím, sây sát da, kích thước(12x3)cm. Vùng ngực phải và bàn tay trái có hình xăm hoa văn màu xanh đỏ. Vùng phía trên xương đòn và ngực hai bên có rãnh hằn tím da, hình cung, kích thước (16x1,3)cm. Mặt sau vai phải có diện sây sát da, kích thước (6x3)cm. Mặt sau khuỷu tay phải có diện xây sát da, kích thước (4x2)cm. Vùng lưng và thắt lưng phải có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (37x12)cm. Mặt sau vai trái có diện xây sát da, kích thước (9x5)cm. Mặt sau khuỷu tay trái có diện sây sát da, kích thước (3x2)cm. Mặt trước gối phải có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (6x4)cm. Mặt trước gối trái có diện sây sát da, kích thước (5,5x2)cm.

*) Khám nghiệm phương tiện:

- Khám xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH125I, biển số 98F1-398.72: Mặt ngoài ốp nhựa đầu xe phía trước bên phải bị mài sát sơn nhựa, kích thước (10x5,5)cm; Vỡ khuyết toàn bộ mặt nạ phía trước đầu xe, đèn xi nhan, đèn chiếu xa trên diện (35x40)cm; Vỡ khuyết cánh yếm hai bên; Đầu tay nắm bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (2x1)cm; Đầu tay phanh bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (1,8x1,8)cm; Mặt ngoài chắn bùn trước bánh trước bị nứt vỡ nhựa, mài sát nilon sơn nhựa trên diện (30x33)cm; vành bánh trước bên trái bị nứt vỡ kim loại, chùn cong theo hướng từ ngoài vào trục trên diện (39x5)cm, tâm vết cách chân van 24cm; Mặt ngoài bên trái lốp bánh trước có vết mài sát cao su, kích thước (14x4)cm tại vị trí tương ứng chùn cong vành bánh trước bên trái, tâm vết cách chân van 35cm; Mặt ngoài để chân trước bên phải có diện mài sát sơn nhựa, kích thước (17x3)cm; Mặt ngoài để chân sau bên phải có diện mài sát kim loại, kích thước (9,5x1,5)cm; Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ ống xả có vết mài sát sơn nhựa, kích thước (18x6)cm; Mặt ngoài tay xách sau phải có vết mài sát sơn kim loại, kích thước (13x1)cm; Mặt ngoài bên phải vành bánh trước bên phải có vết mài sát sơn kim loại, kích thước (1,8x1)cm. Tâm vết cách chân van 25cm.

- Khám xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda, loại Wave A, biển số 98F1-391.46: Ốp nhựa bảo vệ công tơ mét bật khỏi vị trí cố định; Mặt ngoài ốp nhựa phía trước bên trái đầu xe có vết mài sát nhựa, kích thước (19x8)cm; Đầu tay nắm bên trái có vết mài sát sơn kim loại, cao su trên diện, kích thước (4x2)cm; Cánh yếm bên trái bị mài sát sơn nhựa, kích thước (11x1)cm; Để chân trước bên trái bị cong vênh theo hướng từ sau ra trước; Đầu để chân trước bên trái có vết mài sát kim loại, kích thước (1,5x1,5)cm; Hộp xích bên trái bị cong vênh biến dạng, gấp kim loại theo hướng từ trái sang phải trên diện (30x22)cm; Gãy khuyết để chân sau bên trái, mặt ngoài giá gắn để chân sau bên trái có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (5x3)cm, điểm thấp nhất cách đất 41,5cm; Mặt ngoài ốp nhựa phía trên giá gắn để chân sau bên trái có vết mài sát nhựa kích thước (8,5x9)cm, điểm thấp nhất cách đất 53,5cm; giảm sóc sau bên trái bị cong vênh theo hướng từ trước về sau, từ trái sang phải. Mặt ngoài vùng lõm có vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen, kích thước (8,5x2)cm; Ốp nhựa phía trên giảm sóc sau bên trái bị gãy vỡ, mặt ngoài có vết mài sát sơn nhựa trên diện, kích thước (4,5x2,5)cm; Mặt ngoài ốp nhựa thân xe phía sau bên trái có vết mài sát sơn nhựa, dập vỡ nhựa kích thước trên diện (43x12)cm; Mặt ngoài tay xách sau bên trái có vết mài sát sơn nhựa trên diện, kích thước (17x3)cm; Khuyết chắn bùn gắn biển số phía sau banh sau.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của anh Phùng Văn Bình. Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1623/KL-KTHS ngày 14/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của Phùng Văn Bình do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng chẩm-thái dương phải, tụ máu, chảy máu não.

- Cơ chế hình thành các vết thương trên cơ thể Phùng Văn Bình:

+ Các vết thương hằn tím da do quá trình xử lý cấp cứu tại bệnh viện (đặt nẹp cổ Colier, dây cố định đặt nội khí quản).

+ Các tổn thương bầm tím, sây sát, rách da được hình thành do tiếp xúc với vật tày, bề mặt không nhẵn tác động theo chiều hướng khác nhau tạo nên. Tổn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu, tụ máu não được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên là nguyên nhân gây tử vong của Phùng Văn Bình.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết vụ tai nạn, xác định vị trí va chạm của các phương tiện trên mặt đường, xác định tốc độ của phương tiện. Tại bản kết luận giám định số 1785/KL-KTHS ngày 07/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, kết luận:

- Dấu vết nứt vỡ, mài sát sơn nhựa tại mặt trên chắn bùn bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 389.72, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 9 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết cong vênh, mài sát kim loại, bám dính chất màu đen tại giảm sóc sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98F1-391.46, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 12 bản ảnh khám phương tiện).

Dấu vết mài sát cao su, chùn cong, nứt vỡ kim loại tại bên trái má lốp bánh trước và vành bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 389.72, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 10, số 11 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy khuyết, cong vênh, biến dạng, mài sát kim loại, bám dính chất màu đen tại bên trái hộp xích, để chân và giá để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiếm soát 98F1- 391.46, có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải (ảnh số 8, số 9 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu X1 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 389.72 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên.

Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu X2 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiếm soát là 98F1- 391.46 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường và lề đường tạo nên.

- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98F1 - 389.72 và xe mô tô biển kiếm soát 98F1 - 391.46 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu X1, thuộc chiều chuyển động bên trái theo hướng Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô.

- Chiều hướng di chuyển: tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 98F1-389.72 chuyển động thẳng va chạm với xe mô tô biển kiếm soát 98F1

- 391.46 chuyển động ngược chiều, đầu xe chếch chéo sang bên trái theo hướng chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 98F1- 389.72.

- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.

Đối với anh Ngô Hải N điều khiển xe mô tô biển số 98F1 - 391.46 đi ở phần đường bên phải theo chiều đi (theo hướng thị trấn Đồi Ngô đi Tam Dị) thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 98F1 - 389.72 do Lương Văn Q điều khiển chở anh Phùng Văn Bình làm anh Bình tử vong. Kết quả điều tra xác định anh N không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Phùng Văn Bình đưa chìa khóa và xe mô tô cho Q điều khiển (khi Q không có giấy phép lái xe) dẫn đến tai nạn, tuy nhiên anh Bình đã chết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với thương tích của anh Ngô Hải N và anh Kim Văn P, sau khi tai nạn xảy ra được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện. Tuy nhiên, quá trình điều tra anh N, anh P đều có đơn xin từ chối giám định thương tích và không đề nghị giải Q nên Cơ quan điều tra không xem xét, đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải Q vụ án, Lương Văn Q đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Bình số tiền 20.000.000 đồng; anh Ngô Hải N đã hỗ trợ cho gia đình anh Bình số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện gia đình anh Bình đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Q.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Phùng Văn H, sinh năm 1973 trú tại thôn Bãi Lời, xã Tam Dị, huyện LN (là người đại diện hợp pháp cho người bị hại) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH125I, biển số 98F1-398.72; trả lại cho anh Ngô Hải N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave A, biển số 98F1-391.46.

Tại Cơ quan điều tra, Lương Văn Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện LN đã truy tố bị cáo Lương Văn Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Từ nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 20/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh B đã xử:

1. Căn cứ: Điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Q: 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 01/3/2023 bị cáo Lương Văn Q kháng cáo. Nội dung kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử bị cáo 03 năm tù là nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp Pc thẩm xem xét cho bị cáo được H án treo.

* Tại phiên toà Pc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, án sơ thẩm xét xử bị cáo mức án 03 năm tù là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được H án treo. Bị cáo có nhân thân tốt, luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và hàng tháng bị cáo chu cấp tiền cho cháu L là con anh Bình, hoàn cảnh gia đình anh Bình cũng khó khăn, vợ bỏ đi, hai con ở với ông bà nên đề nghị cho bị cáo cải tại địa phương để bị cáo lao động, bù đắp tổn thất và chu cấp cho cháu L. Bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội. Gia đình bị cáo thờ cúng liệt sỹ Lương Văn Cồ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được H án treo.

Đại diện VKSND tỉnh B thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1, Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin H án treo của bị cáo. Sửa bản án sơ của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh B, giữ nguyên hình phạt tù nhưng cho bị cáo được H án treo.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lương Văn Q 03 năm tù, nhưng cho H án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án Pc thẩm.

Giao bị cáo Q cho Ủy ban nhân dân xã Tam Dị, huyện LN, tỉnh B giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự Pc thẩm

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Mong hội đồng xem xét cho bị cáo được H án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải Q đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự Pc thẩm.

. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Vụ án còn có đại diện hợp pháp bị hại là ông Phùng Văn H, bà Mã Thị H, cháu Phùng Thị Kim L; Đại diện hợp pháp cho cháu L là bà Mã Thị H; người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan là bà Mã Thị H, cháu Phùng Thị Kim L, anh Kim Văn P, anh Ngô Hải N nhưng không có kháng cáo không L quan đến kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử Pc thẩm không triệu tập.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện L quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ L quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khẳng định những lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung, mớm cung hoặc nhục hình; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được làm rõ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy đã có đầy đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 18/8/2022, Lương Văn Q sau khi uống bia và chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 98F1-398.72 chở sau anh Phùng Văn Bình đi trên đường Tỉnh lộ 295 hướng xã Tam Dị đi thị trấn Đồi Ngô, huyện LN. Khi đi đến đoạn Km 2+200 thuộc địa phận thôn Hà P 12, xã Tam Dị, huyện LN do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và không đi đúng làn đường vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8; khoản 1, Điều 9; Điều 12 Luật giao thông đường bộ nên đã để phần đầu xe mô tô biển số 98F1-398.72 do Q điều khiển đâm vào giá để chân sau bên trái xe mô tô biển số 98F1- 391.46 do anh Ngô Hải N điều khiển, chở sau anh Kim Văn P đi ngược chiều ở phần đường bên trái theo hướng đi của Q. Hậu quả anh Bình bị chết do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng chẩm-thái dương phải, tụ máu, chảy máu não.

Hành vi của bị cáo Lương Văn Q điều khiển xe ô tô không tuân thủ quy định về làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát để giữ một cách an toàn khi thấy người khác điều khiển xe mô tô sang đường vi phạm khoản 9 Điều 8; Điều 12 của Luật giao thông đường bộ. Hậu quả làm anh Phùng Văn Bình chết. Nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có giấy phép lái xe và trong tình trạng sử dụng bia mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định nên đã phạm vào điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 20/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh B xét xử bị cáo Lương Văn Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, không oan sai.

Xét nội dung kháng cáo xin H án treo của bị cáo thấy:

. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây hoang mang cho quần chúng khi tham gia giao thông do đó cần xử lý nghiêm thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo Q có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội với lỗi vô ý, không có tiền án, tiền sự .

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bồi thường cho gia đình người bị hại; gia đình người bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo thì thấy án sơ thẩm xét xử bị cáo 03 năm tù là có căn cứ, không nặng.

. Quá trình xét xử tại cấp Pc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ là xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Tam Dị về việc bị cáo có nhân thân tốt, luôn chấp hành tốt đường lối chính sách pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương và địa phương xác nhận đề nghị cho bị cáo được cải tạo tại địa phương; Bị cáo có thời gian 02 năm phục vụ trong quân đội tại Trung đoàn 101 Sư Đoàn 325; Gia đình bị cáo thờ cúng em ruột của ông nội bị cáo là Liệt sỹ Lương Văn Cồ; Bố mẹ đẻ anh Bình là ông Phùng Văn H, bà Mã Thị Hướng tiếp tục có đơn đề nghị cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo chu cấp tiền hàng tháng nuôi cháu L, bị cáo cũng đã có đơn xin được nhận cháu L là con nuôi, được Ủy ban nhân dân xã xác nhận. Đây là tình tiết mới cần xem xét cho bị cáo tại cấp Pc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi ở rõ ràng, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mìn, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và để thể hiện tính nhân văn của pháp luật tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện việc chu cấp, nuôi dạy cháu L nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đủ điều kiện cho bị cáo được H án treo theo hướng dẫn tại Nghị Q số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q, sửa bản án sơ thẩm: giữ nguyên mức án 03 năm tù và cho H án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

[

] Do đó, HĐXX căn cứ điểm b khoản 1, Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin H án treo của bị cáo Lương Văn Q. Sửa phần Q định hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Q.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Q đã bồi thường cho gia đình bị hại. Đến nay, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, các bên đã thỏa thuận xong về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải Q.

. Các Q định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải Q.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Lương Văn Q được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự Pc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

1. Chấp nhận kháng cáo xin H án treo của bị cáo Lương Văn Q. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 20/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh B. Xử:

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Q 03 (ba) năm tù nhưng cho H án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án Pc thẩm 19/5/2023.

Giao bị cáo Lương Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã Tam Dị, huyện LN, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Lương Văn Q thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được H án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Q định buộc người được H án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho H án treo.

3. Án phí hình sự Pc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự Pc thẩm.

4. Các Q định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án Pc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ