- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2023/HS-PT Ngày: 31-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Keo
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thúy Hà
Ông Cao Minh Lễ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 82/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ P do có kháng cáo của bị hại bà Lê Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2023/HS-ST ngày 10-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1971, tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh A; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc K (đã chết) và bà Trần Thị X (đã chết); chị, em ruột có 06 người, bị cáo là người thứ 5; chồng tên L (đã chết), có 03 người con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: từ nhỏ sống chung với gia đình, học đến lớp 4 thì nghỉ, sau đó lập gia đình và sống bằng nghề bán vé số cho đến ngày phạm tội;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20-10-2022 đến ngày 25-11-2022 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh đến nay,
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Văng Thi Vân - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh An Giang.
- Bị hại: Bà Lê Thị H, sinh năm 1954 (chết ngày 17/4/2023); nơi cư trú: thị trấn T, huyện T, tỉnh A;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại:
- Ông Lâm Phước P, sinh năm 1977; nơi cư trú: thị trấn T, huyện T, tỉnh A;
- Bà Lâm Thanh T, sinh năm 1979, nơi cư trú: thị trấn T, huyện T, tỉnh A;
- Bà Lâm Thị T1, sinh năm 1981, nơi cư trú: thị trấn T, huyện T, tỉnh A;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố C
(Ngoài ra, còn có người tham gia tố tụng khác không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03-10-2020, Nguyễn Thị Mỹ P điều khiển xe đạp chở Lê Thị Hlưu thông tuyến đường không ưu tiên thuộc khu dân cư ấp Tô Hạ, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn ra đường ưu tiên tỉnh lộ 959. Khi gần đến ngã ba giao nhau thuộc ấp Tô Hạ, xã Núi Tô, P điều khiển xe thiếu quan sát lấn sang phần đường bên trái để chuyển hướng sang đường theo chiều xã An Tức – thị trấn Tri Tôn thì va chạm với xe mô tô 67N1 – 366.44 do Nguyễn Đức T điều khiển lưu thông bên phải đường tỉnh 959 theo chiều ngược lại, làm bánh xe đạp trước dính vào ốp nhựa bộ phận giảm thanh xe mô tô thì P và H ngã xuống đường, còn T cùng xe mô tô kéo lê xe đạp về phía trước một đoạn 27m rồi ngã vào lề đường bên trái theo chiều xe mô tô. Hậu quả, H được mọi người đưa đi cấp cứu, đến ngày 14-10-2020 H xuất viện, riêng P và T bị thương tích nhẹ.
Ngày 22-9-2022, Nguyễn Thị Mỹ P bị khởi tố và bắt tạm giam để điều tra, đến ngày 25-11-2022 P được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.
Vật chứng thu giữ:
- 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Nguyễn Đức T (đã trả cho chủ sở hữu);
- 01 xe mô tô biển số 67N1-366.44 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Hà Thị Tuyết Vân (đã trả cho chủ sở hữu);
- 01 xe đạp màu trắng đã bị hư hỏng.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 344 ngày 11-8-2021 của T tâm pháp y – Sở y tế tỉnh An Giang, kết luận: Lê Thị H, sinh năm 1954, Nứt sọ trán – thái dương trái; Dập não trán – thái dương – đính trái; Xuất huyết dưới nhện, não thất trên lều; Máu tụ dưới màng cứng bán cầu trái; Dập gan; sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng chân trái, kích thước 04 x 0.2cm; mắt mờ tự nhiên, không tiếp xúc được, yếu tứ chi sức cơ 3/5.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 85%.
- Thương tích gây cố tật.
Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm P tiện có liên quan của Đội Cảnh sát giao thông Trật tự - Công an huyện Tri Tôn lập ngày 03-10-2020, ngày 02-11-2020, ngày 07-12-2020 và Biên bản dựng lại hiện trường, khám nghiệm P tiện của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tri Tôn lập ngày 25-8-2022 ghi nhận các dấu vết thể hiện vị trí va chạm ở phần bánh trước xe đạp với bộ phận giảm thanh xe mô tô (các nan hoa xe đạp bị gãy, ốp nhựa bảo vệ bộ phận giảm thanh bị gãy vỡ phức tạp, kích thước 23 x 10cm). Đồng thời trên đường tỉnh lộ 959 có đặt biển báo nguy hiểm thể hiện giao nhau với đường không ưu tiên W.207b.
Trong quá trình điều tra, ban đầu bị cáo cho rằng do lỗi của T chạy xe mô tô tốc độ cao dẫn đến va chạm vào xe đạp do bị cáo điều khiển chở bà H lưu thông qua đường. Sau đó bị cáo thay đổi lời khai thừa nhận do lỗi của bị cáo điều khiển xe đạp lấn sang phần đường bên trái từ đường nhánh ra đường tỉnh 959 nên va chạm với xe mô tô của T lưu thông bên phải theo hướng đi của T nên gây tai nạn. Hậu quả làm bà H ngã xuống đường bị thương tích 85%. Riêng bị cáo và T bị thương tích nhẹ.
Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo tác động gia đình hỗ trợ bồi thường cho bà H số tiền 10.000.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, ông Lâm Phước P trình bày: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo có đến thăm hỏi và hỗ trợ tiền thiệt hại là 10.000.000 đồng, ông T chủ xe mô tô hỗ trợ 20.000.000 đồng. Ông P không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định.Bản cáo trạng số 02/CT-VKSTT-HS ngày 17-01-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 10-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ P 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án, ngày 10-3-2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 30/12/2022 bị hại bà Lê Thị Hcó đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử ngày 10/3/2023 để điều tra, xét xử lại vụ án đối với Nguyễn Đức T; Buộc Nguyễn Đức T có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bà H đã nằm liệt giường, chi phí thuốc thang để cứu chữa cho bà H với số tiền là 400.000.000 đồng từ nguồn tiền vay mượn hàng xóm và ngân hàng chính sách do gia đình thuộc hộ nghèo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại ông Lâm Phước P (ông P còn đại diện cho bà Lâm Thanh T, bà Lâm Thị T1) vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị hại bà Lê Thị H kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm.
- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án mà Tòa cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị hại Lê Thị H chết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng được Tòa thông báo tham gia tố tụng nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 08/2023/HS-ST ngày 10-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông P là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại yêu cầu ông T phải có trách nhiệm bồi thường về tiền mất thu nhập do không lao động được của ông và bà H cũng như tiền thuốc điều trị nhưng cũng không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào, về yêu cầu này bị hại cũng như đại diện bị hại không yêu cầu tại cấp sơ thẩm nên đề nghị cấp phúc thẩm không xem xét, nếu có chứng cứ có quyền yêu cầu giải quyết bằng vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị hại bà Lê Thị H kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, quá trình xét xử phúc thẩm, bị hại H chết ngày 17/4/2023 theo giấy chứng tử số 35/TLKT-BS ngày 05 tháng 5 năm 2023, nên tư cách đại diện hợp pháp của bị hại của ông Lâm Phước P đã chấm dứt. Tòa án đưa ông Lâm Phước P, bà Lâm Thanh T, bà Lâm Thị T1 tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ P khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Thị Mỹ P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị hại Lê Thị H thì thấy:
Tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý của xã hội, mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ P đứng trước phiên tòa hôm nay là một người trưởng thành, khỏe mạnh, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó khi tham gia giao thông, pháp luật buộc bị cáo phải biết và chấp hành tốt các quy tắc về an toàn giao thông đường bộ nhằm bảo toàn tính mạng, tài sản của người khác theo quy định. Tuy nhiên khi bị cáo P tham gia giao thông từ đường nhánh ra đường ưu tiên, lẽ ra bị cáo phải dừng quan sát để sang đường hoặc chuyển hướng theo hướng bên phải nhưng bị cáo P lại cho xe đạp chạy qua phần đường ưu tiên của anh T, làm cho bánh trước của xe đạp đâm vào phần giảm thanh xe của T điều khiển gây thương tích cho bị hại Lê Thị Hvới tỉ lệ thương tật 85%, đây là lỗi của bị cáo P được quy định tại Điều 15, Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Anh T chạy xe với vận tốc khoảng 50km/h trên tỉnh lộ 959, đi bên phải thuộc đường ưu tiên nên anh T không có lỗi dẫn đến va chạm này. Đây là việc xảy ra ngoài ý muốn của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, người đi bộ, đi xe đạp hay xe cơ giới khi tham gia giao thông phải đúng luật, đúng làn đường, quan sát thấy an toàn thì xe mới được lưu thông. Do đó, cần xử phạt bị cáo với một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P yêu cầu anh T phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần; tiền mất thu nhập do ông không lao động được phải ở nhà chăm sóc cho mẹ mỗi ngày 350.000 đồng và bà H mất thu nhập do không đi bán vé số được mỗi ngày 100.000 đồng; tiền thuốc, chi phí điều trị,… nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Tuy nhiên, tại cấp sơ thẩm bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên cấp phúc thẩm không có cơ sở xem xét. Đại diện hợp pháp của bị hại được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại buộc anh T phải chịu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Về án phí: Bị hại Lê Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ P 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án, ngày 10-3-2023.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ P cho Ủy ban nhân dân xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Bị hại Lê Thị H không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang; - Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn; - Phòng hồ sơ công an tỉnh An Giang; - Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Tri Tôn; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Bị hại; - Các đương sự; - Phòng KTNV và THA; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Chí Keo |