vanban.org

Bản án 79/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim Y đối với bị đơn ông ông Nguyễn Văn V về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim Y được ly hôn với ông Nguyễn Văn V. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 228, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh cấp cho bà Phạm Thị Kim Y và ông Nguyễn Văn V không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Y"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim Y đối với bị đơn ông ông Nguyễn Văn V về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/9/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm;

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 527/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 89/2023/QĐST – HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim Y, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: Xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh – vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1974; địa chỉ thường trú: Xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; địa chỉ tạm trú: Đường DH2, tổ 2, khu phố 7, phường Ch, thị xã B, tỉnh Bình Dương – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/7/2023, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Phạm Thị Kim Y trình bày:

Bà Y và ông V chung sống từ năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 228, quyển số 02, cấp ngày 26/10/2003, hôn nhân giữa bà Y và ông V hoàn toàn tự nguyện.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, ông V thường xuyên có lời lẽ xúc phạm bà Y. Ngoài ra ông V có hành vi đánh đập, ngược đãi bà Y, ông V không quan tâm, chăm lo hạnh phúc gia đình và phụ bà Y chăm sóc con chung. Ngày 24/5/2023 bà Y đã dọn ra ở trọ, không còn chung sống với ông V. Thiết nghĩ mục đích hôn nhân không đạt được, tình nghĩa vợ chồng không còn nên nay Y yêu cầu ly hôn với ông V.

Về con chung: Qúa trình sống chung vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 11/03/1997 và Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 29/7/2006. Khi ly hôn, bà Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nguyễn Thị Yến Nh, không yêu cầu ông Vũ cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Duy Kh đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Những chứng cứ, tài liệu nguyên đơn đã cung cấp: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh, Căn cước công dân, Thông báo về việc giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn V. Ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, ông V không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do. Ông V không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Y và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên toà:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn V có địa chỉ tạm trú và đang sinh sống tại nhà trọ Duy Khánh, đường DH2, tổ 2, khu phố 7, phường Ch, thị xã B, tỉnh Bình Dương nên theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng ông V vắng mặt, việc vắng mặt của ông V không vì lý do bất khả kháng. Nguyên đơn bà Phạm Thị Kim Y có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Y và ông V tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 228, quyển số 02, cấp ngày 26/10/2003. Hôn nhân giữa bà Y và ông V là hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo bà Y trình bày, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, ông V thường xuyên đánh đập, xúc phạm danh dự, nhân phẩm bà Y và gia đình bà Y. Nay bà Y nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với ông V để trả tự do cho nhau.

Tại Biên bản xác minh ngày 19/7/2023 tại địa phương thể hiện: Quá trình chung sống bà Y và ông V có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng quan điểm.

Mặt khác, sau khi thụ lý vụ án, Toà án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và nhiều lần triệu tập ông V đến Toà án để hoà giải đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông V không chấp hành theo giấy triệu tập, không có mặt tại Toà án. Qua đó cho thấy ông V không có thiện chí hoà giải đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Điều này cũng cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của bà Y và ông V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim Y yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn V là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Qúa trình sống chung bà Y và ông V có 02 con chung tên Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 11/03/1997 và Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 29/7/2006. Khi ly hôn bà Y yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Yến Nh, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi cháu Nhi. Đối với cháu Nguyễn Duy Kh đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa xem xét, giải quyết.

Xét thấy, cháu Nguyễn Thị Yến Nh đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng sống cùng mẹ. Bà Y cũng là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nh. Do đó yêu cầu của bà Y về quyền nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

Ông V có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà Y và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông V trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà Y không yêu cầu ông V cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà Y yêu cầu ly hôn với ông V, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình không có giá ngạch. Theo khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Yến phải chịu án phí là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim Y đối với bị đơn ông ông Nguyễn Văn V về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim Y được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 228, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh cấp cho bà Phạm Thị Kim Y và ông Nguyễn Văn V không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị Kim Y tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 29/7/2006. Đối với cháu Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 11/03/1997 đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Ông Nguyễn Văn V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn V có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà Phạm Thị Kim Y và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Văn V trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Kim Y không tranh chấp nên không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Phạm Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm án phí số AA/2021/0011603 ngày 19/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ